Xu Hướng 2/2023 # Công Cụ Huyền Không Phi Tinh # Top 10 View | Hartford-institute.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Công Cụ Huyền Không Phi Tinh # Top 10 View

Bạn đang xem bài viết Công Cụ Huyền Không Phi Tinh được cập nhật mới nhất trên website Hartford-institute.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Phong thủy huyền không phi tinh chính là phong thủy học của phái Huyền không (huyền không học) dựa theo Tam Nguyên Cửu Vận.

Huyền không học là môn phong thủy tính toán sự di chuyển của 9 con sao theo quỹ đạo của vòng Lượng thiên Xích trên đồ hình Bát quái để đoán định sự hung cát, được mất của từng căn nhà (dương trạch) hay phần mộ (âm trạch).

9 con sao này được gọi là cửu tinh và dựa vào đồ hình Lạc Thư – Hậu thiên Bát quái và định phương vị cho Cửu tinh:

Số 9 là sao Cửu Tử, nguyên bàn nằm ở hướng NAM. Vì phương NAM nóng, thuộc quẻ Ly-Hỏa nên số 9 mang hành Hỏa.

Số 1 là sao Nhất Bạch, nguyên bàn nằm ở hướng BẮC. Vì phương Bắc hàn lạnh, thuộc quẻ Khảm-Thủy nên số 1 mang hành Thủy.

Số 3 là sao Tam Bích, nguyên bàn nằm ở phương ĐÔNG. Vì phương ĐÔNG là quẻ CHẤN-Mộc, nên số 3 mang hành Mộc.

Số 7 là sao Thất Xích, nguyên bàn nằm ở phương TÂY. Vì phương TÂY là quẻ ĐOÀI-Kim, nên số 7 mang hành Kim.

Số 2 là sao Nhị Hắc, nguyên bàn nằm tại phía TÂY NAM. Vì phía TÂY NAM thuộc quẻ KHÔN-Thổ, nên số 2 mang hành Thổ.

Số 4 là sao Tứ Lục, nguyên bàn ở tại phía ĐÔNG NAM. Vì ĐÔNG NAM thuộc quẻ TỐN-Mộc, nên số 4 mang hành Mộc.

Số 6 là sao Lục Bạch, nguyên bàn ở tại phía TÂY BẮC. Vì TÂY BẮC thuộc quẻ CÀN-Kim, nên số 6 có hành Kim.

Số 8 là sao Bát Bạch, nguyên bàn nằm tại phía ĐÔNG BẮC. Vì phía ĐÔNG BẮC thuộc quẻ CẤN-Thổ, nên số 8 mang hành Thổ.

Số 5 là sao Ngũ Hoàng, nằm ở chính giữa (tức trung cung). Vì trung cung là nơi phát sinh và cũng là nơi kết thúc của vạn vật, nên trung cung thuộc hành Thổ. Vì thế nên số 5 cũng mang hành Thổ.

Đối với Huyền không phi tinh, lựa chọn tọa sơn, lập hướng của một căn nhà hay phần mộ là vấn đề phức tạp, cần phải xem xét tỉ mỉ và công phu.

Vấn đề thuần khí

Chính sơn, chính hướng

Kiêm hướng

Đại không vong

Tiểu không vong

Thành môn

Việc phối hợp với phi tinh và hình thế địa trạch

Sim phong thủy và Huyền Không Phi Tinh

Hiện nay có nhiều phương pháp xem bói sim phong thủy, mỗi phương pháp đều dựa theo các nguyên lý của phong thủy. Có trường phái ứng dụng hà đồ lạc thư, có trường phái dứng dụng tượng của thiên can địa chi.

Việc ứng dụng nguyên lý nào cho đúng thì còn nhiều tranh cãi, nhưng đối người có chuyên môn cao, thì sẽ thất rõ những ưu nhược điểm của từng phương pháp bói sim. Kết quả mới chính là dẫn chứng cho phương pháp bói nào hữu hiệu nhất.

Đối với phương pháp xem phong thủy sim theo Huyền Không Phi Tinh, thì bản chất dựa vào các con số tượng trưng cho các Cát Tinh của bộ môn này để thể hiện cát hung của sim phong thủy.

Ví dụ như các sao như Nhất Bạch, Lục Bạch, Bát Bạch được gọi là Cát Tinh, Tứ Lục là một thứ cát tinh, còn Ngũ Hoàng, Nhị Hắc, Thất Xích, Tam Bích, Cửu Tử là những hung tinh tùy theo cấp độ và sự vượng suy của mỗi vận. Ví dụ như 10 năm cuối của vận 8 là Bát Bạch thì sao Cửu Tử lại là sao Sinh Khí, là một cát tinh tốt.

Ứng dụng vào sim phong thủy, người ta sẽ chọn các số cát tinh như: 1,4,6,8. Ở vận 8 thì lại chọn thêm số 9 để thêm Sinh Khí.

Tuy nhiên, phương pháp này chỉ ứng dụng theo Huyền Không PT, chứ thực tế không thể luận giải chi tiết như phương pháp xem bói sim theo kinh dịch

Huyền Không Phi Tinh Toàn Tập

Huyền không phi tinh là môn Phong thủy dựa vào sự di chuyển của 9 con số theo quỹ đạo của vòng Lượng thiên Xích trên đồ hình Bát quái mà đoán định sự cát, hung, được, mất của từng căn nhà (dương trạch) hay phần mộ (âm trạch).

Có thể nói Bát quái chính là sự thu tóm những biến chuyển của Trời, Đất, còn sự di chuyển của Cửu tinh theo vòng Lượng thiên Xích chính là những biến hóa, thay đổi của sự vật. Và có tác động, ảnh hưởng tới 1 căn nhà hay 1 ngôi mộ vì vậy dựa vào Cửu tinh ta sẽ biết được vận khí tốt, xấu của căn nhà hay ngôi mộ đó theo từng thời gian nhất định. Đây chính là bản chất của trường phái Phong thủy Huyền Không Phi tinh.

1. Sơn, Hướng, và Nguyên Long

1.1 Sơn hướng và nguyên long

Hậu thiên Bát quái của Văn Vương được chia làm 8 hướng đều nhau, với mỗi hướng đi liền với một số của Cửu tinh: hướng BẮC (số 1), ĐÔNG BẮC (số 8), ĐÔNG (số 3), ĐÔNG NAM (số 4), NAM (số 9), TÂY NAM (số 2), TÂY (số 7) , TÂY BẮC (số 6). Riêng số 5 vì nằm ở chính giữa (trung cung) nêm không có phương hướng.

Mỗi cung trong Bát quái lại chia làm 3 cung nhỏ. Trên la bàn sẽ được 24 cung. Người ta lại dùng 12 Địa Chi, 8 Thiên Can (đúng ra là 10, nhưng 2 Can Mậu-Kỷ được quy về trung cung cho Ngũ Hoàng nên chỉ còn 8 Can) và 4 quẻ Càn-Khôn- Cấn-Tốn mà đặt tên cho 24 sơn như sau:

Bảng Tam nguyên Long để xét âm dương cho Hướng

Bảng Tam nguyên Long để xét âm dương cho Sơn

Tất cả 24 sơn trên la bàn đều được xếp theo thứ tự từ trái sang phải theo chiều kim đồng hồ. Chẳng hạn như hướng BẮC có 3 sơn là NHÂM-TÝ-QUÝ, sơn NHÂM chiếm 15 độ phía bên trái, sơn TÝ chiếm 15 độ nơi chính giữa hướng BẮC, còn sơn QUÝ thì chiếm 15 độ phía bên phải. Tất cả các sơn khác cũng đều theo thứ tự như thế.

Mỗi sơn được xác định với số độ chính giữa như: sơn NHÂM tại 345 độ; TÝ 360 độ hay 0 độ; QUÝ 15 độ; SỬU 30 độ; CẤN 45 độ; DẦN 60 độ; GIÁP 75 độ; MÃO 90 độ; ẤT 105 độ; THÌN 120 độ; TỐN 135 đô; TỴ 150 độ; BÍNH 165 độ; NGỌ 180 độ; ĐINH 195 độ; MÙI 210 độ; KHÔN 225 độ; THÂN 240 độ; CANH 255 độ; DẬU 270 độ; TÂN 285 độ; TUẤT 300 độ; CÀN 315 độ; HỢI 330 độ;

Phần trên là tọa độ chính giữa của 24 sơn. Từ tọa độ đó người ta có thể tìm ra phạm vi của mổi sơn chiếm đóng trên la bàn, bằng cách đi ngược sang bên trái, cũng như sang bên phải của tọa độ trung tâm, mỗi bên là 7 độ 5 (vì phạm vi mổi sơn chỉ có 15 độ). Chẳng hạn như hướng MÙI có tọa độ trung tâm là 210 độ. Nếu đi ngược sang bên trái 7 độ 5 (tức là trừ đi 7 độ 5) thì được 202 độ 5. Sau đó từ tọa độ trung tâm là 210 độ lại đi thuận qua phải 7 độ 5 (tức là cộng thêm 7 độ 5) thì được 217 độ 5. Như vậy phạm vi sơn MÙI sẽ bắt đầu từ 202 độ 5 và chấm dứt tại 217 độ 5 trên la bàn.

1.2. Chính Hướng và Kiêm Hướng

Một vấn đề làm cho người mới học Phong thủy khá bối rối là thế nào là Chính Hướng và kiêm Hướng? Thật ra, điều này cũng không khó khăn gì cả, vì khi đo hướng nhà (hay hướng mộ) mà nếu thấy hướng nhà (hay hướng mộ đó) nằm tại tọa độ trung tâm của 1 sơn (bất kể là sơn nào) thì đều được coi là Chính Hướng. Còn nếu không đúng với tọa độ tâm điểm của 1 sơn thì được coi là Kiêm Hướng. Kiêm hướng lại chia ra là kiêm bên phải hoặc kiêm bên trái, rồi kiêm nhiều hay kiêm ít.

Nếu kiêm bên phải hoặc kiêm bên trái thì hướng nhà không được xem là thuần khí nữa, vì đã lấn sang phạm vi của sơn bên cạnh (điều này sẽ nói rõ hơn trong phần Tam nguyên long). Nói kiêm phải hay kiêm trái là lấy tọa độ tâm điểm của mổi sơn làm trung tâm mà tính. Chẳng hạn như sơn MÙI có tọa độ trung tâm là 210 độ. Nếu bây giờ 1 căn nhà có hướng là 215 độ thì nhà đó thuộc hướng MÙI (vì sơn MÙI bắt đầu từ khoảng 202 độ 5 và chấm dứt tại 217 độ 5), nhưng kiêm bên phải 5 độ. Nhưng trong thuật ngữ Phong thủy thì người ta lại không nói kiêm phải hoặc trái, mà lại dùng tên của những hướng được kiêm để gọi nhập chung với hướng của ngôi nhà đó. Như trong trường hợp này là nhà hướng MÙI kiêm phải 5 độ, nhưng vì hướng bên phải của hướng hướng MÙI là hướng KHÔN, nên người ta sẽ nói nhà này ” hướng MÙI kiêm KHÔN 5 độ ” tức là kiêm sang bên phải 5 độ mà thôi.

Riêng với vấn đề kiêm nhiều hay ít thì 1 hướng nếu chỉ lệch sang bên phải hoặc bên trái khoảng 3 độ so với tọa độ tâm điểm của hướng đó thì được coi là kiêm ít, và vẫn còn giữa được thuần khí của hướng. Còn nếu lệch quá 3 độ so với trung tâm của 1 hướng thì được coi là lệch nhiều, nên khí lúc đó không thuần và coi như bị nhận nhiều tạp khí. Những trường hợp này cần được dùng Thế quái (hay số thế, sẽ nói trong 1 dịp khác) để hy vọng đem được vượng khí tới hướng hầu biến hung thành cát mà thôi.

1.3 Tam nguyên long

Tam nguyên long bao gồm: Địa nguyên long, Thiên nguyên long, và Nhân nguyên long. Mỗi Nguyên bao gồm 8 sơn (hay 8 hướng), trong đó có 4 sơn dương và 4 sơn âm như sau:

THIÊN NGUYÊN LONG: bao gồm 8 sơn :

4 sơn dương: CÀN, KHÔN, CẤN, TỐN.

4 sơn âm: TÝ, NGỌ, MÃO, DẬU.

ĐỊA NGUYÊN LONG: bao gồm 8 sơn:

4 sơn dương: GIÁP, CANH, NHÂM, BÍNH.

4 sơn âm: THÌN, TUẤT, SỬU, MÙI.

NHÂN NGUYÊN LONG: bao gồm 8 sơn:

4 sơn dương: DẦN, THÂN, TỴ, HỢI.

4 sơn âm: ẤT, TÂN, ĐINH, QUÝ.

Với sự phân định âm hay dương của mỗi hướng như trên, người ta có thể biết được lúc nào phi tinh sẽ đi thuận hoặc đi nghịch khi xoay chuyển chúng theo vòng LƯỢNG THIÊN XÍCH.

Ngoài ra, nếu nhìn kỹ vào sự phân chia của Tam nguyên Long ta sẽ thấy trong mổi hướng của Bát quái được chia thành 3 sơn, và bao gồm đủ ba Nguyên: Địa, Thiên và Nhân, theo chiều kim đồng hồ.

Ví dụ: Như hướng BẮC được chia thành 3 sơn là NHÂM-TÝ-QUÝvới NHÂM thuộc Địa nguyên long (trái) Nghịch tửTÝ thuộc Thiên nguyên long (giữa) quẻ Phụ mẫuvà QUÝ thuộc Nhân nguyên long (phải) Thuận tử

Các hướng còn lại cũng đều như thế, nghĩa là Thiên nguyên long ở chính giữa, Địa nguyên long nằm bên phía tay trái, còn Nhân nguyên long thì nằm bên phía tay phải. Từ đó người ta mới phân biệt ra Thiên nguyên long là quẻ Phụ mẫu, Địa nguyên long là Nghịch tử (vì nằm bên tay trái của Thiên nguyên long tức là nghịch chiều xoay chuyển của vạn vật), còn Nhân nguyên long là Thuận tử. Trong 3 nguyên Địa-Thiên-Nhân thì Thiên và Nhân là có thể kiêm được với nhau (vì là giữa phụ mẫu và thuận tử). Còn Địa nguyên long là nghịch tử chỉ có thể đứng 1 mình, không thể kiêm phụ mẫu hay thuận tử. Nếu Địa kiêm Thiên tức là âm dương lẫn lộn (hay âm dương sai thố). Nếu Địa kiêm Nhân thì sẽ bị xuất quái.

Ví dụ: Nhà hướng MÙI 205 độ. Vì hướng MÙI bắt đầu từ 202 độ 5, nên nhà hướng 205 độ cũng vẫn nằm trong hướng MÙI, nhưng kiêm sang phía bên trái 5 độ, tức là kiêm hướng Đinh 5 độ. Vì hướng MÙI là thuộc Địa nguyên long (tức Nghịch tử), chỉ có thể lấy chính hướng (210 độ) chứ không thể kiêm, cho nên trường hợp này là bị phạm xuất quái, chủ tai họa, bần tiện. Ngược lại, nếu 1 căn nhà có hướng là 185 độ, tức là hướng NGỌ kiêm ĐINH 5 độ. Vì NGỌ là quẻ Phụ mẫu, kiêm sang bên phải tức là kiêm Thuận tử nên nhà như thế vẫn tốt chứ không xấu. Đây là 1 trong những yếu tố căn bản và quan trọng của Huyền không Học, cần phải biết và phân biệt rõ ràng. Có như vậy mới biết được tuy 2 nhà cùng 1 trạch vận, nhưng nhà thì làm ăn khá, mọi người sang trọng, có khí phách, còn nhà thì bình thường, con người cũng chỉ nhỏ mọn, tầm thường mà thôi. Cho nên sự quý, tiện của 1 căn nhà phần lớn là do có biết chọn đúng hướng hoặc biết kiêm hướng hay không mà ra. Những điều này sẽ đuoc nói rõ hơn trong phần Lập hướng và Kiêm hướng.

Ví dụ: Như hướng NAM được chia thành 3 sơn là BÍNH – NGỌ – ĐINH.với BÍNH thuộc Địa nguyên long (trái) Nghịch tửNGỌ thuộc Thiên nguyên long (giữa) quẻ Phụ mẫuvà ĐINH thuộc Nhân nguyên long (phải) Thuận tử

1.4 Tam Nguyên, Cửu Vận

Một căn nhà có thể được xây dựng trên 1 mảnh đất có địa thế tốt (hoặc xấu), nhưng không phải vì thế mà nó sẽ tốt (hay xấu) vĩnh viễn, mà tùy theo biến đổi của thời gian sẽ đang từ vượng chuyển sang suy, hay đang từ suy chuyển thành vượng. Đó là lý do giải thích tại sao có nhiều gia đình khi mới vào ở 1 căn nhà thì làm ăn rất khá, nhưng 5, 10 năm sau lại bắt đầu suy thoái dần. Hay có những gia đình sau bao nhiêu năm sống trong 1 căn nhà nghèo khổ, bỗng tới lúc con cái ăn học thành tài, gia đình đột nhiên phát hẳn lên… Cho nên đối với Phong thủy Huyền Không thì không những chỉ là quan sát địa hình, địa vật bên ngoài, cấu trúc, thiết kế bên trong căn nhà, mà còn phải nắm vững từng mấu chốt của thời gian để đoán định từng giai đoạn lên, xuống của 1 trạch vận (nhà ở hay phần mộ). Nhưng thời gian là 1 chuyển biến vô hình, chỉ có đi, không bao giờ trở lại, thế thì lấy gì làm căn mốc để xác định thời gian? Để giải quyết vấn đề này, người xưa đã dùng cách chia thời gian ra thành từng Nguyên, Vận. Nguyên là 1 giai đoạn dài khoảng 60 năm hay 1 Lục thập Hoa Giáp. Mỗi Nguyên lại được chia thành 3 vận, mỗi vận kéo dài khoảng 20 năm. Mặt khác, cổ nhân còn định ra Tam Nguyên là:

Thượng Nguyên: bao gồm 3 vận 1, 2, 3.

Trung Nguyên: bao gồm 3 vận 4, 5, 6.

Hạ Nguyên : bao gồm 3 vận 7, 8, 9.

Như vậy, Tam Nguyên Cửu Vận tức là 3 Nguyên: Thượng, Trung, Hạ, trong đó bao gồm 9 Vận, từ Vận 1 tới Vận 9. Tổng cộng là chu kỳ 180 năm, cứ từ Vận 1 (bắt đầu vào năm GIÁP TÝ) đi hết 3 Nguyên (tức 9 Vận) rồi lại trở về Vận 1 Thượng Nguyên lúc ban đầu. Cứ như thế xoay chuyển không ngừng. Còn sở dĩ người xưa lại dùng chu kỳ 180 năm (tức Tam Nguyên Cửu Vận) làm mốc xoay chuyển của thời gian là vì các hành tinh trong Thái Dương hệ cứ sau 180 năm lại trở về cùng nằm trên 1 đường thẳng. Đó chính là năm khởi đầu cho Vận 1 của Thượng Nguyên. Dùng đó làm mốc để tính thời gian, người ta có thể suy ra Tam Nguyên Cửu Vận gần đây nhất là:

THƯỢNG NGUYÊN:* Vận 1: từ năm 1864- 1883* Vận 2: từ năm 1884- 1903* Vận 3: từ năm 1904- 1923.

TRUNG NGUYÊN :* Vận 4: từ năm 1924- 1943* Vận 5: từ năm 1944- 1963* Vận 6: từ năm 1964- 1983

HẠ NGUYÊN:* Vận 7: từ năm 1984- 200* Vận 8: từ năm 2004- 2023* Vận 9: từ năm 2024- 2043

Như vậy, năm 2043 là năm cuối cùng của vận 9 Hạ Nguyên. Cho nên vào năm 2044 (tức năm GIÁP TÝ) thì lại trở về vận 1 của Thượng Nguyên, cứ như thế xoay chuyển mãi không ngừng. Điều quan trọng cho những ai mới học Huyền Không phi tinh là phải biết rõ năm nào thuộc Vận và Nguyên nào. Chẳng hạn như năm 1980 là thuộc về vận 6 Trung Nguyên, vì nó nằm trong giai đoạn từ năm 1964-1983. Hoặc như năm 1991 là thuộc về vận 7 Hạ Nguyên, vì nó nằm trong giai đoạn từ năm 1984- 2003. Cho nên những nhà cửa hay phần mộ xây trong năm 1991 đều thuộc về vận 7 Hạ Nguyên, hay những nhà xây năm 1980 đều thuộc về vận 6 Trung Nguyên. Có nắm vững được điều này thì mới có thể thiết lập trạch vận cho nhà cửa hay mộ phần được.

2. Phương pháp lập tinh bàn

Muốn lập tinh bàn (hay trạch vận) cho 1 căn nhà (hay 1 ngôi mộ) thì vấn đề trước tiên là phải biết căn nhà hay ngôi mộ đó được xây dựng trong năm nào, tháng nào? Rồi dựa vào bảng Tam Nguyên Cửu Vận gần đây nhất mà xác định nhà đó thuộc vận nào?

2.1 Phương pháp xác định Vận bàn

Thí dụ như 1 căn nhà được xây xong vào tháng 6 năm 1984. Nếu nhìn vào bảng Tam Nguyên Cửu Vận gần đây thì thấy Vận 7 bắt đầu từ 1984 và kết thúc vào cuối năm 2003, cho nên biết nhà đó thuộc vận 7 Hạ Nguyên.

Nhưng vấn đề xác định nhà thuộc vận nào trở nên rắc rối và phức tạp khi 1 căn nhà đã được xây xong khá lâu, sau đó được chủ nhà tu sửa hay xây lại nhiều lần. Hoặc sau khi xây xong thì căn nhà đã được đổi chủ… Đối với những căn nhà trên thì việc xác định căn nhà thuộc vận nào là phụ thuộc vào những yếu tố sau đây:

Nếu sau khi vào ở 1 thời gian rồi chủ nhà hoặc là dỡ mái lợp lại (nếu là nhà trệt), hoặc là tu sửa quá 1/3 diện tích căn nhà, hoặc là đập đi xây mới thì căn nhà sẽ không còn thuộc về vận cũ lúc mới xây nhà hay dọn vào nhà ở nữa, mà sẽ thuộc về vận là lúc gia chủ thực hiện những việc tu sửa trên.

Nếu căn nhà được đổi chủ (vì bán hoặc cho thuê) thì khi lập tinh bàn căn nhà cho chủ mới thì phải dựa vào thời điểm họ dọn vào nhà này ở, chứ không dựa vào thời điểm lúc xây nhà. Nếu 1 căn nhà được đổi chủ nhiều lần, thì khi lập tinh bàn cho người chủ nào thì chỉ dựa vào thời điểm người đó dọn vào căn nhà để ở là thuộc vận nào. Cũng lấy thí dụ căn nhà ở trên, xây xong và dọn vào ở tháng 6 năm 1984 nên căn nhà thuộc vận 7. Nhưng nếu vào năm 2000 người chủ đó bán nhà cho 1 người khác. Khi người này dọn vào ở trong năm đó thì trạch vận căn nhà vẫn thuộc vận 7 (vì vận 7 bắt đầu từ năm 1984 và kết thúc vào cuối năm 2003). Nếu người này ở tới năm 2005 rồi lại bán nhà đi nơi khác, thì khi người chủ mới dọn về nhà này thì trạch vận căn nhà của họ lại thuộc về Vận 8 (vì Vận 8 bắt đầu từ năm 2004 và kết thúc vào cuối năm 2023) Cho nên tùy thời điểm mà gia chủ dọn vào căn nhà là thuộc vận nào mà tính trạch vận cho họ thuộc vận đó.

Đối với những căn nhà vừa tu sửa như trường hợp 1, vừa thay đổi chủ như trường hợp 2 thì trường hợp nào xảy ra gần nhất thì trạch vận của căn nhà sẽ thuộc về Vận đó. Cũng lấy thí dụ căn nhà xây năm 1984 (nhà thuộc vận 7), sau đó bán lại cho 1 người khác vào năm 2000 (nhà vẫn thuộc vận 7). Nhưng đến năm 2004 thì người này tu sửa nhà, nên nhà lúc đó sẽ thuộc về vận 8. Đến khi người đó bán nhà vào năm 2005 thì căn nhà cũng vẫn thuộc vận 8 đối với chủ mới.

Đối với những căn nhà tuy không đổi chủ hay được tu sửa, nhưng nếu chủ nhà đóng cửa đi vắng 1 thời gian từ hơn 1 tháng trở lên, đến khi họ trở về thì căn nhà sẽ thuộc về Vận vào lúc họ trở về, chứ không còn thuộc về Vận cũ nữa. Cũng lấy thí dụ nhà xây năm 1984, người chủ sau khi mua ở đó được hơn 20 năm. Tới năm 2005 người đó có công chuyện phải đi xa hơn 2 tháng mới về. Như vậy khi người này trở về nhà thì lúc đó căn nhà sẽ chuyển sang thuộc về Vận 8, chứ không còn thuộc về Vận 7 nữa.

Đối với những căn nhà được xây hay dọn vào ở trong những năm cuối của 1 vận thì trạch vận của căn nhà thường là thộc về vận mới, chứ cũng không thuộc về vận cũ nữa. Thí dụ như những căn nhà được xây hay được dọn vào ở năm 2003, tức là năm cuối cùng của Vận 7 thì trạch vận của căn nhà sẽ thuộc về Vận 8, chứ không thuộc về Vận 7 nữa.

Khi đã biết cách xác định nhà (hay mộ) thuộc Vận nào thì mới có thể lập tinh bàn cho căn nhà (hay phần mộ đó).

2.2 – Hướng dẫn an Vận tinh

Trước hết lấy 1 tờ giấy trắng vẽ 1 ô vuông lớn, sau đó chia ô vuông đó ra làm 9 ô nhỏ, với 8 ô chung quanh tiêu biểu cho 8 hướng: BẮC, ĐÔNG BẮC, ĐÔNG, ĐÔNG NAM, NAM, TÂY NAM, TÂY, và TÂY BẮC. Riêng ô giữa được coi là trung cung. Sau đó mới có thể tiến hành việc lập tinh bàn.

Thời gian được chia làm 3 nguyên, gồm: Thượng nguyên, Trung nguyên và Hạ nguyên. Mỗi nguyên lại chia làm 3 Vận. Mỗi Vận là 20 năm

Thượng Nguyên (tổng cộng 60 năm) gồm:

Vận 1: 1864 – 1883 (Giáp Tý – Quý Mùi)

Vận 2: 1884 – 1903 (Giáp Thân – Quý Mão)

Vận3: 1904 – 1923 (Giáp Thìn – Quý Hợi)

Trung nguyên (tổng cộng 60 năm) gồm:

Vận 4: 924 – 1943 (Giáp Quý – Quý Mùi)

Vận 5: 944 – 1963 (Giáp Thân – Quý Mão)

Vận 6: 1964 – 1983 (Giáp Thìn – Quý Hợi)

Hạ nguyên (tổng cộng 60 năm) gồm:

Vận 7: 1984 – 2003 (Giáp Quý – Tý Mùi)

Vận 8: 2004 – 2023 (Giáp Thân – Quý Mão)

Vận 9: 2014- 2043 (Giáp Ngọ- Quý Hợi)

Tổng 3 nguyên là 180 năm. Hết hạ nguyên lại tới thượng nguyên.

Hiện tại chúng ta đang sống trong hạ nguyên;– Vận 7 từ 1984 đến 2003– Vận 8 từ 2004 đến 2023– Vận 9 từ 2024 đến 2063Đến vận của sao nào thì lấy sao đó nhập trung cung, xác định các sao khác theo vòng lường thiên xích thuận

2.3 Cách xác định tọa tinh và hướng tinh bay thuận hay nghịch theo đường Lường thiên xích

Để xác định tọa tinh và hướng tinh bay thuận hay bay nghịch, chúng ta dựa trên 5 quy tắc sau:

Quy tắc 1: Nếu tọa và hướng thuộc sơn thứ nhất (ví dụ: nhà hướng Bính, Mùi, Canh… thuộc sơn thứ nhất) và tọa tinh hoặc hướng tinh là sao 1, 3, 7, 9 thì sao sẽ bay thuận.

Quy tắc 2: Nếu tọa và hướng thuộc sơn thứ nhất (ví dụ: nhà hướng Bính, Mùi, Canh… thuộc sơn thứ nhất) và tọa tinh hoặc hướng tinh là sao 2, 4, 6, 8 thì sao sẽ bay nghịch.

Quy tắc 5: Trường hợp tọa tinh hay hướng tinh là sao số 5 thì

Nếu Sao vận tinh ở trung cung là: 1, 3, 7, 9 và hướng tinh thuộc sơn thứ nhất sẽ bay thuận, hướng tinh ở sơn thứ 2 và thứ 3 sẽ bay nghich.

Nếu Sao vận tinh ở trung cung là: 2, 4, 6, 8 và hướng tinh thuộc sơn thứ nhất sẽ bay nghịch, hướng tinh ở sơn thứ 2 và thứ 3 sẽ bay thuận.

Thí dụ: Nay ta đang ở vận 8. Lấy số 8 nhập trung cung bay thuận ta được vận bàn như hình sau:

2.4 – Hướng dẫn an Hướng tinh vào tinh bàn:

Sau khi có Vận bàn ta lấy số ở Hướng nhà cho nhập trung cung, rồi cho bay thuận hay nghịch theo quy tắc ở trên.

Ví dụ: Nhà tọa Càn, hướng Tốn (Hướng Tốn thuộc Đông Nam). Như hình Tinh bàn vận 8 ở trên. Hướng nhà có sao số 7. Ta lấy 7 nhập trung cung, ta cho 7 bay nghịch (thường thì hướng tinh đặt bên phải của vận tinh) ta được hình bên dưới.

2.5 Hướng dẫn an Sơn tinh vào tinh bàn

” Sơn” chỉ khu vực sau nhà , tức phương toạ. Lấy số của Vận bàn tại phương toạ đem nhập trung cung, để ở góc bên trái. Xem Phương toạ là sơn gì? Thuộc tam nguyên long nào? âm hay dương?

Thí dụ: Vẫn lấy nhà ở trên lập tinh bàn cho vận 8, Nhà toạ Càn, có vận tinh tại Càn là 9. Ta lấy 9 nhập trung cung, ta cho 9 bay nghịch (thường thì Sơn tinh đặt bên trái của vận tinh) ta được tinh bàn như hình bên dưới.

Tóm tắt:

Lấy số của vận bàn tại toạ hoặc hướng nhập trung cung.

Nếu là Thiên hoặc Nhân nguyên long: Số chẵn bay thuận, số lẻ bay nghịch.

Sau khi đã có sơ đồ phi tinh, tiến hành luận đoán tốt xấu để có phương án bài trí cho phù hợp. Hai cung quan trọng nhất đó là Toạ và Hướng, bởi Hướng là nơi nạp Thiên khí vào nhà chủ quản hoạ phúc. Toạ là nơi nạp Địa khí chủ về nhân đinh, hậu vận.

3. Thế nào là Vượng tinh, Suy tinh

Thế nào là vượng và thế nào là suy?

Vượng là khi được đắc cách (dĩ nhiên phải là sao vượng, sinh hoặc tiến khí trong vận đó) như Sơn vượng thì có núi cao. Nhà cao, cây cao….Hoặc Hướng vượng thì có thủy, trống thoáng hoặc có đường đi.

Suy là khi bị thất cách. Như sao Sơn vượng, Sinh hoặc tiến khí mà lại gặp thủy. Hay sao hướng Vượng, Sinh hoặc tiến khí lại gặp sơn . Sao Sơn là Tử khí mà lại gặp núi hoặc sao Hướng là Tử khí mà lại gặp thủy

SINH VƯỢNG VÀ TIẾN KHÍ:

Khái niệm về Khí:

Người Trung Hoa cổ đại cho rằng khí là nguồn năng lượng được cung cấp cho con người. Các danh sư phong thủy dùng địa hình để nhận biết khí, do không thể nhìn thấy khí, không chạm được, nên họ phải dùng phong thủy làm công cụ tiếp xúc với khí, tìm khí, đem khí phục vụ cho con người. Con người nếu tập luyện thường xuyên, khi vận khí tạo ra một sức mạnh (năng lượng) đáng kể.

Trong Huyền Không Phi Tinh, mỗi vận đều có một sao luân phiên làm chúa tể gọi là sao “Đương Lệnh” (Vượng Tinh), sao này mang đến Vượng Khí. Những sao trong tương lai sẽ “nằm lệnh” gọi là sao Sinh Khí và Tiến Khí.

Ví dụ: Vận 8 thì sao Bát Bạch Thổ là sao nắm lệnh là Vượng Khí, sao 9 là Sinh Khí và sao 1 là Tiến Khí.

Vượng khí là khí tốt, nó mang lại vận hội tốt đẹp cho con người do đó cần phải khai thác triệt để.

THOÁI KHÍ, SUY KHÍ VÀ TỬ KHÍ:

Thoái khí: Là sao vừa mới hết nắm lệnh.

Suy khí: là sao hết nắm lệnh một thời gian.

Tủ khí: Là những sao đã qua thời kỳ nắm lệnh từ rất lâu.

Ví dụ: Trong vận 8 thì:

Sao 7 là sao thoái khí

Sao 6 là sao suy khí

Các sao 5, 4, 3 và 2 là những sao tử khí

Các sao Suy, Tử mang những khí xấu đến làm ảnh hưởng đến con người, chúng dễ gây ra tai họa, bệnh tật, do đó cần phải hóa giải hoặc tránh né chúng. Đặc biệt các sao 5, 2, 7 (các sao xấu) khi là Suy khí, Tử Khí sẽ gây ra những tai họa khó lường, lúc nào cũng cần đề phòng.

cXÁC ĐỊNH KHU VỰC CÓ SINH VƯỢNG KHÍ VÀ SUY TỬ KHÍ

Tùy vào thời gian nhập trạch mà ta biết được Trạch Bàn ở Vận nào, rồi sau đó biết được sao đương lệnh và suy ra các sao sinh, vượng khí hay suy tử khí.

Ví dụ: Nhà nhập trạch vào năm 2007, thuộc vận 8 (2004 – 2023) do đó:

Sao 8 (Bát Bạch) là vượng khí

Sao 7 là thoái khíSao 9 là Sinh khí

Sao 6 là suy khí

Sao 1 là Tiến Khí

Sao 5, 4, 3, 2 là Tử khí

ĐẶC ĐIỂM CỦA SINH VƯỢNG VÀ SUY TỬ KHÍ

Huyền Không Học đặc biệt coi trọng sự VƯỢNG, SUY của Khí, đôi khi áp dụng Ngũ hành chỉ là thứ yếu.

Sinh, Vượng tinh ở Sơn, cần có “Sơn” để vượng đinh: cần núi, nhà cao…

Sinh vượng tinh ở Hướng, cần có “Thủy” để vượng tài: cần sông, đường…

Sơn tinh Suy Tử nếu gặp “Sơn” là rất xấu về nhân đinh như: hiếm muộn, khó có vợ chồng, chia ly… Cần khu vực rộng, thoáng.

Hướng tinh Suy Tử nếu gặp “Thủy” là suy bại tài lộc như: phá sản, nghèo khó… Cần có núi đồi, nhà cao…

Khu vực có hướng tinh và sơn sinh suy tử thì không nên bố trí “Sơn” hoặc “Thủy”, cần bằng phẳng, trống, thoáng, yên tĩnh để tránh tai họa.

Khu vực có hướng tinh và sơn tinh đều vượng thì cần có “Thủy” gần còn “Sơn” xa, sẽ đắc cách cả hai nên phát triển cả nhân đinh và tài lộc.

Còn nếu như ngược lại sẽ có “Sơn” gần và “Thủy” xa là phạm cách “Ngoại Sơn Hữu Thủy”, sẽ suy bại cả nhân đinh và tài lộc.

Nhà trong vận 8, ở Vị trí chính Bắc có hướng tính là số 2 thuộc tử khí. Nhưng ở hướng Bắc lại có ao, hồ, sông lớn. Trường hợp này Hướng tinh số 2 đắc Thuỷ của ao, hồ tắm lớn. Đây là trường hợp Tử khí đắc cách, nên trong nhà này vừa bị hao tài, vừa bị bệnh tật liên miên, lại còn xuất hiện quả phụ. Cho nên đàn ông trong nhà đó dễ bị vắn số.

Nếu nơi đó lại có sơn tinh 3, tạo thành thế “ĐẤU NGƯU SÁT”, nên gia đình sẽ bị mắc khẩu thiệt, quan tụng liên miên. Hoặc nếu nơi đó có sơn tinh hay vận tinh 7, kết hợp với hướng tinh 2 tạo thành cặp 2-7 Hoả tiên thiên thì nhà này dễ bị xung đột hoặc trong nhà có người mắc bệnh đau tim.

Vào những năm có niên tinh 9, 7, 2 chiếu tới khu vực này thì bệnh tim càng nặng, có thể chết người. Nếu khu vực này mà lại nằm tại phía ĐÔNG hoặc ĐÔNG NAM thì vào những năm có niên tinh 4, 3 chiếu tới thì còn gặp hoả hoạn mà sản nghiệp tiêu tan nữa.

Cho nên nếu khí suy tử mà đắc cách thì ngoài vấn đề phá tài, tổn đinh thì còn bị những tai hoạ, bệnh tật khác nữa, chứ không phải chỉ là làm ăn lụn bại (trường hợp Hướng tinh “Thượng Sơn”) hoặc nhân số giảm thiểu (trường hợp Sơn tinh “Hạ thuỷ”) như các trường hợp vượng tinh thất cách, tức là mức độ tai hoạ còn nguy hiểm và trầm trọng hơn.

Vấn đề khảo sát các sao Vận-Sơn-Hướng (nhất là Sơn và Hướng) thì trước hết cần phải xét đến thời vận, xem chúng là sinh, vượng hay suy, tử. Sau đó mới xét tới hình thế Loan đầu xem chúng có đắc cách hay không? Như Sơn tinh vượng cần gặp núi hay nhà cao, Hướng tinh vượng cần có thuỷ hoặc cửa ra vào… Nếu chúng được như vậy thì dù ngũ hành có bị xung khắc cũng vẫn không có tai hoạ gì cả. Chỉ khi chúng đều là khí suy, tử, hoặc không đắc cách thì mới xét đến ngũ hành sinh, khắc để đoán biết hung hoạ mà thôi.

Lấy thí dụ:

Cung KHẢM có các sao: 7-8-3 (theo thứ tự Sơn-Vận-Hướng). Nếu là trong vận 7, sơn tinh 7 là vượng khí, nên nếu khu vực này có nhà cao thì chủ vượng nhân đinh, lại hoá sát của Hướng tinh số 3, chứ không có vấn đề khắc chế gì cả. Nhưng qua vận 8, sơn tinh 7 biến thành suy khí, khắc chế Hướng tinh 3, nên nhà này dễ bị trộm cướp hay tai hoạ hình thương, hay có bệnh về thần kinh…

Chỉ có khi xét tới niên, nguyệt, nhật thời tinh thì mới dùng đến nguyên lý ngũ hành sinh, khắc làm chủ yếu. Còn giữa vận-sơn-hướng khi xét đến sự sinh, khắc thì chủ yếu là giữa Hướng tinh và Sơn tinh, còn vận tinh chỉ có thể phụ hoạ thêm vào cái sinh hoặc khắc giữa 2 sao đó mà thôi

4. Ý nghĩa các cặp Sơn, Hướng

4.1 Nhất Bạch

4.2 Nhị Hắc

4.3 Tam Bích

4.4 Tứ Lục

4.5 Ngũ Hoàng

4.6 Lục Bạch

4.7 Thất Xích

4.8 Bát Bạch

4.9 Cửu Tử

Cần chú ý Nhắc lại cần lưu ý thế nào là vượng và thế nào là suy. Thí dụ : vận 8 ở một cung có cặp sơn hướng 8-6 . Nếu có núi, nhà cao, cây cao thì gọI là vượng vì 8 là sơn tinh vượng. Nếu có ao hồ thì gọI là suy vì 6 là hướng tinh tử khí trong vận 8

5. Phương pháp chọn toạ sơn lập hướng

Về tuổi của người sống trong ngôi nhà thì Lý thuyết huyền không không đặt nặng vấn đề. Nếu ngôi nhà được vượng sơn vượng hướng và loan đầu phù hợp thì bất cứ tuổi nào sống trong ngôi nhà đó vẫn tốt như thường. Tuy nhiên việc chọn toạ sơn lập hướng cho một ngôi nhà theo huyền không cần xem xét một cách cẩn thận.

Trước tiên phải tìm hiểu xem phải làm thế nào để xây dựng được một ngôi nhà có trạch vận tốt. Muốn xây được cát trạch thì bước đầu tiên chính là phải lập hướng cho ngôi nhà. Có nghĩa là xác định tọa hướng của ngôi nhà, để cho ngôi nhà được xây hài hòa với với trường khí của trời đất, âm dương cân bằng. Để được Vượng sơn vượng hướng phát huy tác dụng vượng đinh vượng tài. Tương tự, điều này cũng thích hợp với việc chọn đất và xây dựng mồ mả.

Việc lập hướng được thực hiện bằng la bàn, hay nói một cách đơn giản. Đó chính là dùng la bàn để xác định phương vị tọa độ của ngôi nhà. Đó cũng là một trong chức năng cơ bản nhất của la bàn. Lập hướng phân thành lập hướng chính hướng và lập hướng kiêm hướng.

Khi lập hướng cố gắng sử dụng chính hướng chứ không dùng kiêm hướng. Xét từ góc độ học thuyết âm dương của kiêm hướng tương đối phức tạp dễ làm cho trạch vận thay đổi. Chính hướng phải chọn vượng sơn vượng hướng để xác định tọa hướng. Điều này không chỉ xem xét vượng tinh đương vận, mà còn cần xem xét vận tinh sinh khí. Có nghĩa là vượng tinh đương vận trong vận tiếp theo. Vì tuổi thọ của ngôi nhà bình thường đều từ 50 đến 70 năm. 20 năm là 1 vận. Do vậy, khi xây nhà cần phải suy tính đến trạch vận sau mấy năm, mười mấy năm, hoặc sau 20 năm.

Ngoài ra còn một số phương pháp lập hướng hợp lý. Đó là không phải chỉ phù hợp với cách cục tinh bàn tốt. Mà còn phải xem xét đến sự ảnh hưởng của địa hình địa thế và môi trường xung quanh. Đảm bảo rằng tinh bàn luôn phù hợp với môi trường mới là phương án tốt nhất.

6. Các cách sát trong Huyền Không

Những người mới áp dụng Huyền Không nên lưu ý nhiều đến những cách sát, bởi do học thuật hoặc kinh nghiệm còn hạn chế dễ bị bỏ qua những cách sát gây tổn hại âm đức cho mình và cho người. Nếu đã ứng dụng theo Huyền Không thì trước hết hãy theo Huyền Không từng bước cho chuẩn. Huyền Không đặc biệt chú trọng tới việc vận dụng Lý khí sao cho phù hợp với Hình thế vì vậy Hình – Lý là hai khái niệm bắt buộc không thể thiểu khi vận dụng Huyền Không.

6.1 THÁI TUẾ

Thái Tuế – còn gọi là Tuế tinh, Thái Tuế Địa Bàn, Thanh Long tinh hay Mộc tinh – là một hành tinh lớn có trọng lượng lớn hơn gấp 300 lần so với trọng lượng của Địa cầu, hơn nữa còn có hơn 63 vệ tinh khác quay xung quanh nó.

Do vậy nếu có chấn động (động thổ xây nhà, máy móc chuyển động, ống khói các nhà máy phun ra nhiều) … ở phương có Thái Tuế đến thì sẽ làm cho trường khí dồn về phương đó nhiều hơn nữa. Kết quả của các chấn động là Cát hay Hung sẽ tùy thuộc vào khí trường (vận khí) ở phương đó Vượng hay Suy. Như vậy Thái Tuế sẽ khuếch đại trường khí, Tốt thì tốt hơn, Xấu thì nặng hơn. Vì vậy sao Thái tuế đặc biệt được chú ý.

Một chu kỳ vòng quanh mặt Trời của Mộc tinh là 12 năm trong khi đó một chu kỳ vòng quanh mặt Trời của Địa cầu là 1 năm, vậy mỗi năm Địa cầu sẽ đi qua giữa mặt Trời và Mộc tinh một lần. Đó chính là thời điểm Địa cầu đồng thời bị hai lực hấp dẫn của mặt Trời và Mộc tinh tương tác và hệ quả là trường khí của Địa Cầu sẽ bị xáo trộn mãnh liệt. Năm Tý thì Thái Tuế đáo sơn Tý, năm Sửu thì Thái Tuế đáo sơn Sửu… đến năm Hợi thì Thái Tuế đáo sơn Hợi.

Ví dụ: Người sinh năm Dần, có niên canh Thái Tuế là Dần, niên canh xung Thái Tuế là Thân thì không nên động thổ tại hai phương Dần, Thân. Nếu muốn sửa chữa thì phải đảm bảo sao cho trường khí không thể dồn về các phương đó được (ví dụ như xây tường chắn khí …), nhưng tốt nhất là không nên động thổ ở các phương đó vì làm sao đảm bảo được trường khí sẽ không dồn về các phương đó. Từ lý luận này suy ra thì người được sinh ra ở Địa chi nào nên tránh chọn sơn mang tên Địa chi đó làm hướng nhà (vì hướng nhà là chỗ luôn luôn động và động mạnh nhất trong một căn nhà).

6.2 THÁI TUẾ PHI TINH

Thái Tuế Phi tinh: Cửu cung Phi tinh lưu niên, mỗi năm có 1 tinh tú nhập trung cung, còn lại 8 tinh tú bay đến 8 hướng (ngọai trừ Ngũ Hoàng) đều có thể luân phiên nhau làm Thái Tuế Phi tinh theo từng năm, 9 năm là kết thúc 1 vòng tuần hoàn.Năm Ngũ Hoàng nhập cung trung thì Thái Tuế Địa bàn và Thái Tuế Phi tinh trùng nhau.Thái Tuế Phi tinh sẽ gây ảnh hưởng mạnh hơn những phi tinh khác trong năm ngoại trừ Ngũ Hoàng.

6.3 NGUYỆT PHI THÁI TUẾ

Ngoài Thái Tuế ra còn có Nguyệt Phi Thái Tuế (Ám kiến sát). Cách tìm Ám Kiến sát như sau: Lập nguyệt tinh bàn tìm xem Nhị Khôn đáo cung nào thì cung đó chính là Ám Kiến sát. Phàm phương Ám Kiến đến, trong tháng đó tránh sửa chữa tu tạo.

6.4 TUẾ PHÁ

Tuế Phá là cung đối diện với Thái Tuế. Thái Tuế xuất hiện sẽ thu hút hết các dương khí, nhiều trường khí và từ lực trong không gian về phương vị của nó như vậy cung đối diện với nó (Tuế Phá) chỉ còn lại toàn là âm khí, hoặc trống rỗng. Như vậy có thể xem như phương vị Tuế Phá sẽ không còn sinh khí.

Không nên xung động (ngủ, làm việc, tu sửa nhà, đi lại…) với phương vị Tuế Phá thậm chí phương vị đó có Sinh – Vượng tinh bay đến.

6.5 NGŨ HOÀNG

Ngoài vận 5 ra, ở các vận khác đều có Ngũ Hoàng đáo Sơn hoặc đáo Hướng. Nếu Ngũ Hoàng là hướng tinh bay thuận thì tạo ra cách cục toàn bàn là hướng tinh Phục ngâm. Nếu Ngũ Hoàng là hướng tinh bay nghịch thì tạo ra cách cục toàn bàn là hướng tinh Phản ngâm.

Ngũ Hoàng (5) nếu là khách tinh lưu niên, các nơi nó đến đều mang hung họa.Ngũ Hoàng (5) đáo cung ắt mang họa tới.Ngũ Hoàng (5) nếu gặp Thái Tuế ắt sinh đại họa.Ngũ Hoàng (5) gặp Tam (3), Thất (7) (Quan sát gặp phải Xuyên tâm sát) nếu không trở thành thổ phỉ thì cũng là trộm cắp hoặc tứ chi thọ thươngNgũ Hoàng (5) gặp Tam (3), Nhị (2) (Quan sát gặp phải Đấu ngưu sát) nếu không phải trong nhà tranh giành của cải thì người mẹ ắt cũng chết đột ngột.Ngũ Hoàng (5) gặp Lục (6), Thất (7) (Quan sát gặp phải Giao kiếm sát) không tranh giành đoạt lợi thì cũng bị kiện cáo.Ngũ Hoàng (5) gặp Nhị (2), Ngũ (5) là ốm đau đến chếtNgũ Hoàng (5) gặp Thất (7), Cửu (9) là mắc bệnh đột ngột.

6.6 TAM SÁT

Tam Sát là một trong những tai họa lớn nhất của năm. Nguyên tắc cơ bản là không được động thổ hoặc quấy rầy phương vị của nó trong suốt cả năm. Tam Sát là tổ hợp của ba Sát: Tuế Sát, Kiếp Sát và Tai Sát. Tuế Sát gây trở ngại cho các mối quan hệ, ngăn cản bước tiến tới thành công, Kiếp Sát gây mất mát tiền của và Tai Sát gây rủi ro, tai nạn. Phạm Tam Sát có thể khiến cho thanh danh, tiền bạc và các mối quan hệ bị hủy hoại.

Câu quyết đả nói:

Dần, Ngọ, Tuất: Sát Bắc.

Thân, Tý, Thìn: Sát Nam.

Hợi, Mẹo,Mùi: Sát Tây.

Tỵ, Dậu, Sửu: Sát Đông.

Có nghĩa là năm Dần, Ngọ, Tuất tam sát tại hướng Bắc, các năm khác tương tự.

6.7 BÁT SÁT: Lấy tọa sơn (mặt sau nhà) để tính.

Phương vị sát này kiêng kỵ trổ Cửa , đào Giếng, kỵ thấy nước.

Khảm Long, Khôn Thố, Chấn sơn Hầu.

Tốn Kê, Kiền Mã. Đoài Xà đầu.

Cấn Hổ, Ly Trư vi SÁT diệu.

Phạm chi MỘ-TRẠCH nhất tề hưu.

Dịch nghĩa là:

Nhà TỌA KHÔN thì ở phương MẸO (MÃO) là kỵ.

Nhà TỌA CHẤN thì ở phương THÂN là kỵ.

Nhà TỌA TỐN thì ở phương DẬU là kỵ.

Nhà TỌA KIỀN (CÀN) thì ở phương NGỌ là kỵ.

Nhà TỌA ĐOÀI thì ở phương TỊ là kỵ.

Nhà TỌA CẤN thì ở phương DẦN là kỵ.

Nhà TỌA LY thì ở phương HỢI là kỵ.

Và ngược lại cũng vậy.

Nhà TỌA (mặt sau nhà) THÌN, Tuất thì ở phương KHẢM là kỵ.

Nhà TỌA MẸO thì ở phương KHÔN là kỵ.

Nhà TỌA THÂN thì ở phương CHẤN là kỵ.

Nhà TỌA DẬU thì ở phương TỐN là kỵ.

Nhà TỌA NGỌ thì ở phương Càn là kỵ.

Nhà TỌA TỊ thì ở phương ĐOÀI là kỵ.

Nhà TỌA DẦN thì ở phương CẤN là kỵ.

Nhà TỌA HỢI thì ở phương LY là kỵ.

* Chọn ngày khởi công, động thổ: – Phải TUYỆT ĐỐI TRÁNH nhằm ngày phạm phải BÁT SÁT.

Ví dụ: Ta định chọn ngày Tân tỵ động thổ cho nhà có tọa càn hướng Tốn. Nhà tọa càn thì bát sát là Bính ngọ, và Nhâm ngọ.

Ta cho Tân tỵ vào trung cung và an thuận theo vòng lường thiên xích hết 60 hoa giáp, thấy Bính ngọ, hoặc Nhâm ngọ rơi đúng vào cung Càn, thì năm tháng ngày giờ Tân tỵ này phạm không thể dùng.

6.8 HOÀNG TUYỀN: Lấy hướng (mặt trước nhà) để tính.

Nói đến HOÀNG TUYỀN là nói đến 1 phương vị gần như bất khả xâm phạm trong Phong Thủy. Bởi các Hung Phương như THÁI TUẾ , NGŨ HOÀNG SÁT , TAM SÁT thì chỉ theo năm mà di chuyển đi , còn HOÀNG TUYỀN là phương vị cố định. Khi Nhà, Mộ mà xác định hướng nào đó là đã có 1 vài phương hướng không thể phạm. Chữ ” Phạm” ở đây ý nói ở những nơi ấy có thể kiêng kỵ như: Phóng thủy ( thải nước ra ), đường đi, nước chầu lại , lạch nước…vv…thậm chí ngay cả trổ cửa , chọn ngày giờ khởi công cũng phải tránh.

6.8.1 TỨ LỘ HOÀNG TUYỀN

Canh , Đinh KHÔN thượng thị HOÀNG TUYỀN

Ất , Bính tu phòng TỐN thủy tiên

Giáp , Quý hướng trung ưu kiến CẤN

Tân , Nhâm thủy lộ phạ đương KIỀN.

Nghĩa là:

CANH hướng mà thấy ở phương KHÔN có nước nên chảy đến ,chảy đi là phạm HOÀNG TUYỀN.

ĐINH hướng mà làm nhà thì nước phương KHÔN nên chảy đi ,chảy đến là phạm HOÀNG TUYỀN.

ẤT hướng thì phương TỐN nước nên chảy đi, chảy lại là phạm HOÀNG TUYỀN.

BÍNH hướng thì nước phương TỐN nên chảy lại, chảy đi là phạm HOÀNG TUYỀN.

GIÁP hướng thì nước phương CẤN nên chảy lại , nếu chảy đi là phạm HOÀNG TUYỀN.

QUÝ hướng thì nước phương CẤN nên chảy đi, nếu chảy lại là phạm HOÀNG TUYỀN.

TÂN hướng thì nước ở KIỀN ( CÀN ) nên chảy đi , nếu chảy đến là phạm HOÀNG TUYỀN.

NHÂM hướng thì nước ở KIỀN nên chảy đến , chảy đi là phạm HOÀNG TUYỀN.

Địa chi gồm:

Nhà hướng Mão Thìn Tị Ngọ HOÀNG TUYỀN ở Tốn;

Nhà hướng Ngọ Mùi Thân Dậu HOÀNG TUYỀN ở Khôn;

Nhà hướng Dậu Tuất hợp Tý HOÀNG TUYỀN ở Kiền;

Nhà hướng Tý Sửu Dần Mão HOÀNG TUYỀN ở Cấn.

6.8.2 BẠCH HỔ HOÀNG TUYỀN: Lấy Hướng Để Tính

Kiền, Giáp, Khảm, Quý, Thân, Thìn sơn

Bạch Hổ chuyển tại Đinh-Mùi gian

Cánh hữu Ly, Nhâm, Dần kiêm Tuất

Hợi sơn lưu thủy chủ ưu phiền.

Chấn, Canh, Hợi, Mùi tứ sơn kỳ

thủy nhược lưu Thân khước bất nghi.

Cánh hữu Đoài, Đinh, Tị kiêm Sửu

phạm trước Ất-Thìn Bạch Hổ khi.

Khôn,Ất nhị cung Sửu mạc phạm

thủy lai tất nam định vô nghì.

Cấn,Bính sầu phùng Ly thượng ,hạ.

Tốn,Tân ngộ Khảm họa nan di.

Thử thị Hoàng Tuyền chuyên Hướng luận

Khai môn-Phóng thủy ắt sầu bi

Giải Nghĩa :

Kiền Giáp Khảm Quý Thân Thìn thì Bạch hổ ở Đinh Mùi

Ly Nhâm Dần Tuất thì Bạch hổ ở Hợi

Chấn Canh Hợi Mùi thì Bạch hổ ở Thân

Đoài Đinh Tị Sửu thì Bạch hổ ở Ất Thìn

Khôn Ất thì Bạch hổ ở Sửu

Cấn Bính thì Bạch hổ ở (ngọ) Ly

Tốn Tân thì Bạch hổ ở (tý) Khảm

6.9 KIẾP SÁT: (Lấy tọa sơn để tính)

Tốn, Mùi, Thân sơn Quý Kiền tàng

Tân, Tuất cư Sửu, Canh mã hương

Chấn, Cấn phùng Đinh, Giáp Kiền Bính

Nhâm hầu kiến thỏ, Bính Tân phương

Khảm Quý phùng xà, Tị Ngọ kê

Đinh Dậu phùng Dần, Khôn Hợi ất

Long Hổ ngộ dương, ất hầu kiếp

Tê ngưu long vị vĩnh bột lập

Giải nghĩa:

Các Sơn Tốn, Mùi, Thân có Kiếp sát tại Quý.

Tân Tuất Sơn Kiếp sát tại Sửu.

Canh Sơn Kiếp sát tại Ngọ.

Chấn, Cấn Sơn Kiếp sát tại Đinh.

Giáp Sơn Kiếp sát tại Bính.

Nhâm Sơn Kiếp sát tại Thân.

Kiền Sơn Kiếp sát tại Mão.

Bính Sơn Kiếp sát tại Tân.

Quý, Tý Sơn Kiếp sát tại Tị.

Tị, Ngọ Sơn Kiếp sát tại Dậu.

Đinh, Dậu Sơn Kiếp sát tại Dần.

Khôn, Hợi Sơn Kiếp sát tại Ất.

Thìn,Dần Sơn Kiếp sát tại Mùi.

Ất Sơn Kiếp sát tại Thân.

Sửu Sơn Kiếp sát Thìn.

7. Hướng dẫn luận giải tinh bàn Huyền không phi tinh

7.1 Lưu ý khi luận giải

Trong tinh bàn cần luận chủ yếu sự hung sát của hai cung sơn và hướng, đó là hai cung rất quan trọng đặc biệt là trong môi trường dương trạch ở đô thị bây giờ. Cách cuộc vượng sơn vượng hướng thường là cát vì đảm bảo đượng yêu cầu nay vì hai cung sơn hướng đều có vượng tinh chiếu, nếu phối hợp với loan đầu nữa thì thật tốt. Có điều so với cách hợp thập (toàn ban có sao sơn – vận hơp 10, hoặc hướng – vận hơp 10) thì cón kém xa bởi cách hợp thập toàn ban đều vượng, khí các quẻ thông nhau, ví dụ 4, 6 là hai cung Càn, Tốn tức Thiên Môn và Địa Hộ , Càn vượng thì Tốn vượng nên chỉ cần một cung vượng toàn ban đều vượng, địa vận lại kéo dài chứ không như cách vượng sơn vượng hướng, nếu sang vận mới mà hướng tinh chuyển vào trung cung thì gọi là nhập tù như vậy phúc đã hết chuyển thành hoạ ngay.

Về lý khí, Huyền Không đặc biệt coi trọng sự vượng suy của khí, đôi khi ngũ hành chỉ là thứ yếu, đừng quá xét quan hệ của ngũ hành sinh khắc giữa các ai tinh, các phi tinh mà quên đi tính chất vượng suy tử của các sao. Sự vượng suy phân ra chi tiết, sao chính vận ví dụ vận 8 là Bát Bạch gọi là sao đương vận, khí nó mạnh nhất và có sức chi phối lớn, tiếp theo là sao vượng khí và sinh khí Cửu Tử, Nhất Bạch. Các sao sinh khí có sức chi phối yếu hơn nhưng cũng là cát tinh, đặc biệt trong đương vận các sao này có thể yếu nhưng sang những vận sau nó lại trở thành hữu dụng đó là trường hợp tính toán cho tương lai nhất là vận dụng trong âm phần mồ mả. Trong một cùng cặp sơn tinh và hướng tinh bước đầu phải xét xem quan hệ của sơn tinh hay hướng tinh thì cái nào là chủ cái nào là khách, sau đó xem chủ vượng hay khách vượng, nếu khách vượng khắc chủ thì là cát mà sinh nhập chủ cũng là cát. Nếu sao khách là suy tử thì luận là hung, kế tiếp mới dùng ngũ hành luận mức độ nặng nhẹ và biến tướng cụ thể của học phúc.

Xem xét địa hình xung quanh đặc biệt sơn thuỷ phối ứng với tinh bàn. Trong đô thị thì là ngã 3 ngã tư, ao hồ, sông ngòi, gò đống, mái nhọn, nghĩa trang, các toà nhà xung quanh phối với những cung xấu trong tinh bàn xem có phạm gì không ? VD một cung càn có sao 5, 9, phương ấy lại có nghĩa trang là rất xấu bởi Ngũ Cửu là cặp sao gây hoạ lớn, gặp nghĩa trang âm khí nhiều tổn hại cho người cha già, nữ trong nhà. Nếu mở cửa phụ, cửa sổ thì càng độc hơn, từ đó có cách trấn yểm ngay kịp thời thì sẽ tránh được điều xấu.Một thí dụ về Lý khí và hình thế trong huyền không học.

8. Mở cửa, mở cổng trong Huyền không phi tinh

8.1 Mở cửa, mở công

Nhà được vượng khí tới hướng thì mở cửa trước ngay cung của hướng đó. Nên nắm trọn trong cung đó, nếu là nhân nguyên long hoặc thiên nguyên long thì có thể lấn qua nhau được. Như cung ngọ thì có thể lấn qua đinh và ngược lại. Nếu là địa nguyên long thì chỉ nằm trọn trong cung này mà thôi.

Nhà không được vượng khí tới hướng thì mở cửa qua cung có vượng khí. Thí dụ nhà tọa dậu hướng mão vận 8. tử khí tứ lục tới hướng nếu mở cửa tại mão hoặc canh thì tứ lục tới cửa. Nhưng nếu mở cửa tại giáp thì vẫn tốt như thường, vì áp dụng bí quyết thành môn thì vượng tinh 8 tới cửa. Đây là cách làm vượng những nhà mà hướng không đắc vượng khí.

Muốn mở cổng, cửa chính hay cửa phụ đều phải dùng đến bí quyết của thành môn, TUỲ THEO TỪNG VẬN, để xác định vị trí của nó, có như thế mới có thể nhận được vượng khí.

Ví dụ:

Nhà nhập trạch trong vận 7, lấy 7 nhập trung cung xoay thuận thì vận tinh 4 tới phía TÂY NAM. Nếu muốn mở cửa ở phương này thì lại phải lấy 4 nhập trung cung. Nếu chọn phương MÙI làm vị trí cửa thì MÙI tương ứng với quẻ THÌN của 4, tức là quẻ ÂM nên đi nghịch, nên vượng khí Thất xích sẽ đến phía TÂY NAM. Ngược lại, nếu chọn phương KHÔN hoặc THÂN để mở cửa sau thì KHÔN và THÂN sẽ tương ứng với TỐN và TỴ của số 4 tức là thuộc quẻ DƯƠNG nên đi thuận, sao Nhất bạch sẽ đến cửa này thì chỉ bình thường mà thôi. Còn bây giờ đã qua vận 8, tuy nhà không sửa đổi để thay đổi trạch vận, nhưng vẫn lấy vận tinh Bát bạch nhập trung cung xoay thuận thì vận tinh Ngũ Hoàng sẽ đến phía TÂY NAM. Vì Ngũ Hoàng không có phương hướng, nên khi bay đến cung nào thì theo phương hướng của cung đó. Cho nên nếu chọn cửa phương MÙI thì lại lấy Ngũ Hoàng nhập trung cung bay nghịch thì sao Bát bạch sẽ tới cửa sau. Bát bạch là vượng khí của vận này nên tài lộc sẽ phát. Đó chính là dùng bí quyết của thành môn khi chọn phương vị cửa cho từng vận mà không cần cải tạo trạch vận vậy. Còn nếu chọn hướng KHÔN hay THÂN thì Ngũ Hoàng sẽ nhập trung cung bay thuận, sao Nhị Hắc tới cửa sau chủ đem lại bệnh tật mà thôi. Muốn ứng dụng Thành Môn thì cần phải có địa thế bên ngoài (tức Loan đầu) ứng hợp, tức khu vực có Thành Môn phải có sông, biển, hồ tắm hoặc ngã ba, ngã tư… thì mới dùng được, còn nếu không thì ít nhất cũng phải có cổng hay lối vào nhà tại đó. chứ nếu không thì dù có để nước hay mở cửa tại khu vực đó cũng không hữu hiệu lắm. Nhất là vấn đề mở cửa thì nếu cửa trước đã có vượng khí thì cần gì phải mở thêm cửa ngay bên cạnh, vừa mất thẩm mỹ, vừa chẳng được lợi lộc gì thêm. Cho nên không phải nhà nào cũng có thể ứng dụng được Thành Môn.

Còn phương toạ trên lý thuyết cũng có thể kiếm Thành Môn để làm vượng cho nhân đinh, và cách tìm thì cũng tương tự như tìm Thành Môn ở hướng. Chỉ có điều là nơi đó cần có núi, gò dất cao hay nhà cao, cây cao… Tuy nhiên trên thực tế thì ít ai dùng tới cách này. Vì nhà nếu đã “Đáo sơn, đáo hướng” thì phía sau đều đã có vượng tinh của sơn tới, nên chỉ cần có núi hay nhà cao tại khu vực phía sau nhà là cũng đủ vượng đinh rồi. Chưa kể tới cuộc “Thu Sơn, Xuất Sát” nữa, cho nên như thế cũng quá đủ cho cuộc vượng đinh. Riêng đối với những nhà có song tinh tới hướng thì chỉ cần ở hướng đắc thuỷ lớn cũng đủ bảo đảm vượng cả đinh lẫn tài rồi.

8.2 Cách tính Thành Môn đơn giản

Hướng có Thành Môn phải cùng 1 Thiên, Địa hoặc Nhân nguyên long với toạ, hướng của căn nhà (hoặc ngôi mộ).

Hướng của vận tinh tới Thành Môn phải là sơn âm, xoay nghịch thì Thành Môn mới đắc vượng khí và dùng được. Nếu là sơn dương, xoay thuận thì chỉ gặp toàn khí suy, tử tới Thành môn nên không thể dùng. Cho nên gặp những trường hợp như thế thì cứ bỏ đi

Nếu khí Thành môn vượng thì dù hướng tinh ở nơi đó có là suy , tử cũng nên đặt nước. Tuy nhiên, nếu đã đặt thì nước phải lớn mới có hiệu quả, nếu nước nhỏ quá thì chỉ mất công trông coi, dọn dẹp mà thôi.Hoặc nơi khí thành môn vượng mà có ngã ba, ngã tư thì rất tốt.

8.3 Hướng cửa phòng ngủ và hướng đầu giường ngủ

Lấy tâm phòng, sau đó đưa tinh bàn của căn nhà vào tâm phòng. Cửa mở tại cung có hướng tinh là cát tinh: 1; 4; 6; 8. Nếu mở cửa tại cung có hướng tinh là vượng, sinh tiến khí thì càng tốt ho8n. Thí dụ: vận 8, cửa phòng có hướng tinh là 8 hoặc 9 thì sẽ tốt cho người ở trong phòng này đặc biệt là về tài lộc. Với học sinh thì nên mở cửa tại cung có hướng tinh 4 (chủ về học vấn)

Về việc luận cát, hung của phòng ngủ thì ngoài việc dùng phi tinh của cửa phòng kết hợp với niên-nguyệt tinh thì còn cần phải để ý tới những phương vị có thuỷ hoặc động khí ở gần hay chung quanh phòng ngủ như bếp, cầu thang, hồ cá…Nếu những khu vực này lại nằm cùng 1 cung với cửa phòng thì tính chất cát, hung càng tăng thêm rõ rệt. Chẳng hạn như 1 nhà toạ DẬU hướng MÃO, nhập trạch trong vận 7, thì khu vực ĐB có vận tinh 1, sơn tinh 6 và hướng tinh 2. Nếu 1 phòng ngủ có cửa phòng nằm tại khu vực phíaNguồn:nhantrachoc.net,vn

9. Sự Tương Quan Của Ngũ Hành

Sự tương tác giữa Ngũ hành với nhau được thể hiện qua những hình thức sau:

9.1 Ngũ hành tương sinh

Mọi vật thể muốn phát triển cần được sự hổ trợ, nuôi dưỡng từ những vật thể khác. Do đó, quan hệ tương sinh là biểu hiện quá trình tăng trưởng và phát triển của sự vật.

Nguyên lý ngũ hành tương sinh là:

– KIM sinh THỦY– THỦY sinh MỘC– MỘC sinh HỎA– HỎA sinh THỔ– THỔ sinh KIM.

Kim sinh Thủy không phải là vì Kim bị đốt nóng sẽ chảy ra thành nước, vì Kim lúc đó tuy ở dạng thể mền lỏng, nhưng đỏ chói, nóng bỏng nên sao có thể gọi là “Thủy” được. Thật ra, nguyên lý Kim sinh Thủy của cổ nhân là vì lấy quẻ CÀN là biểu hiện của Trời, mà Trời sinh ra mưa để tưới nhuần vạn vật, nên Thủy được phát sinh từ Trời. Mà quẻ CÀN có hành Kim nên mới nói Kim sinh Thủy là vậy. Mặt khác, trong Hậu thiên Bát quái của Văn Vương, Thủy là nguồn gốc phát sinh của vạn vật. Nếu không có Thủy thì vạn vật không thể phát sinh trên trái đất. Cho nên khi lấy CÀN (KIM) sinh KHẢM (THỦY) cũng chính là triết lý của người xưa nhìn nhận nguồn gốc của sự sống trên trái đất là bắt nguồn từ Trời, là hồng ân của Thượng Đế. Do đó, trong các nguyên lý tương sinh của Ngũ hành, Kim sinh Thủy là 1 nguyên lý tâm linh, triết lý và vô hình, và cũng là nguyên lý tối cao của học thuyết Ngũ hành tương sinh, vì nó là sự tương tác giữa Trời và Đất để tạo nên vạn vật. Còn những nguyên lý tương sinh còn lại chỉ là sự tương tác giữa những vật thể với nhau trên trái đất để duy trì sự sống mà thôi, nên cũng dễ hiểu và dễ hình dung hơn.

9.2 Ngũ hành tương khắc

Mọi vật thể khi bị sát phạt, khắc chế sẽ đi đến chỗ tàn tạ, thoái hóa. Do đó, quan hệ tương khắc là để biểu hiện quá trình suy vong và hủy diệt của sự vật.Nguyên lý của Ngũ hành tương khắc là:

– KIM khắc MỘC.– MỘC khắc THỔ.– THỔ khắc THỦY.– THỦY khắc HỎA.– HỎA khắc KIM.

Trong những nguyên lý tương khắc chỉ là sự tương tác giữa những vật thể với nhau để đi đến sự hủy diệt. Như vậy, trong nguyên lý tương sinh, tương khắc của Ngũ hành, người xưa đã bao hàm cả triết lý sự sống là bắt nguồn từ Trời (Thượng Đế), nhưng trường tồn hay hủy diệt là do vạn vật trên trái đất quyết định mà thôi. Ngoài ra, nó cũng bao hàm hết cả quá trình Sinh-Vượng- Tử- Tuyệt của vạn vật rồi vậy.

9.3 Ngũ hành phản sinh

Tương sinh là quy luật phát triển của vạn vật, nhưng nếu sinh nhiều quá đôi khi lại trở thành tai hại. Điều này cũng tương tự như 1 em bé cần phải ăn uống cho nhiều thì mới mau lớn. Nhưng nếu ăn nhiều quá thì đôi khi có thể sinh bệnh tật hoặc tử vong. Đó là nguyên do có sự phản sinh trong Ngũ hành.

Nguyên lý của Ngũ hành phản sinh là:

Kim cần có Thổ sinh, nhưng Thổ nhiều thì Kim bị vùi lấp.

Thổ cần có Hỏa sinh, nhưng Hỏa nhiều thì Thổ thành than.

Hỏa cần có Mộc sinh, nhưng Mộc nhiều thì Hỏa bị nghẹt.

Mộc cần có Thủy sinh, nhưng Thủy nhiều thì Mộc bị trôi dạt.

Thủy cần có Kim sinh, nhưng Kim nhiều thì Thủy bị đục.

9.4 Ngũ hành phản khắc

Khác với quy luật phản sinh, Ngũ hành phản khắc là khi một hành bị khắc, nhưng do lực của nó qúa lớn, khiến cho hành khắc nó đã không thể khắc được mà lại còn bị thương tổn, gây nên sự phản khắc.

Nguyên lý của Ngũ hành phản khắc là:

Kim khắc được Mộc, nhưng Mộc cứng thì Kim bị gãy.

Mộc khắc được Thổ, nhưng Thổ nhiều thì Mộc bị gầy yếu.

Thổ khắc được Thủy, nhưng Thủy nhiều thì Thổ bị trôi dạt.

Thủy khắc được Hỏa, nhưng Hỏa nhiều thì Thủy phải cạn.

Hỏa khắc được Kim, nhưng Kim nhiều thì Hỏa sẽ tắt.

Cho nên trong sự tương tác giữa Ngũ hành với nhau không chỉ đơn thuần là tương sinh hay tương khắc, mà còn có những trường hợp phản sinh, phản khắc sẽ xảy ra nữa. Biết hết được những điều này thì khi ứng dụng vào Huyền không phi tinh mới đạt đến mức độ linh hoạt và tinh vi, chính xác hơn. Chẵng hạn như một ngôi nhà nơi phía ĐÔNG có các vận-sơn-hướng tinh 3-3-7. Nếu theo thông thường thì thấy 7 thuộc hành Kim khắc 3 thuộc hành Mộc, nên nếu nhà này có cửa ra vào tại nơi đó thì đoán là nhà sẽ có người bị gãy tay, chân vì Kim khắc Mộc. Nhưng nếu nhìn kỹ thì thấy nơi đó có tới hai sao hành Mộc. Lại thêm phía ĐÔNG cũng hành Mộc. Cho nên Mộc nơi này vượng, một sao Kim thế yếu không thể khắc được, mà còn bị phản khắc lại. Vì thế nhà này không có người bị gãy tay chân, mà chỉ có bị bệnh yếu phổi hay đau phổi mà thôi.

10. Vượng Sơn, Vượng Hướng

Sau khi đã thiết lập được tinh bàn (hay trạch vận) cho 1 căn nhà thì điều trước tiên là phải xác định được những khu vực nào có sinh -vượng khí, cũng như những khu vực nào có suy – tử khí của căn nhà đó. Điều này cũng rất dễ dàng, vì chỉ cần căn cứ vào thời điểm lúc đang coi Phong thủy cho căn nhà là thuộc vận nào, rồi lấy vận đó làm chuẩn mốc. Kế đó nhìn vào hết 9 cung của trạch bàn. Hễ thấy cung nào có Hướng tinh cùng 1 số với đương Vận (tức vận hiện tại) thì khu vực đó được xem là có VƯỢNG KHÍ. Những cung nào có 2 số tiếp theo sau vượng khí thì được xem là có SINH KHÍ. Những cung nào có số trước số của vượng khí thì bị coi là có SUY KHÍ. Còn những cung nào có những số trước vượng khí từ 2 số trở lên thì đều bị coi là có TỬ KHÍ. Những điều này được áp dụng cho cả Hướng tinh lẫn Sơn tinh, còn Vận tinh thì không mấy quan trọng nên không cần phải xét tới.

VƯỢNG KHÍ: Hướng tinh cùng 1 số với đương Vận (tức vận hiện tại) thì khu vực đó được xem là có VƯỢNG KHÍSINH KHÍ: Những cung nào có 2 số tiếp theo sau vượng khí thì được xem là có SINH KHÍSUY KHÍ: Những cung nào có số trước số của vượng khí thì bị coi là có SUY KHÍTỬ KHÍ: Còn những cung nào có những số trước vượng khí từ 2 số trở lên thì đều bị coi là có TỬ KHÍ

*Thí dụ 1: Nhà tọa TÝ hướng NGỌ, xây xong và vào ở trong vận 8.

Nếu lập trạch vận thì sẽ thấy Hướng tinh 8 tới phía NAM, nên phía NAM được xem là đắc VƯỢNG KHÍ (vì hướng tinh cùng 1 số với đương Vận, tức Vận 8). Còn phía ĐÔNG BẮC có hướng tinh số 9, phía TÂY có hướng tinh số 1, tức là 2 số tiếp theo sau số 8 (vì sau 8 là 9, sau 9 lại trở về 1) nên là 2 khu vực có SINH KHÍ. Còn phía BẮC có hướng tinh số 7, trước số 8 (đương vận) 1 số nên là khu vực có SUY KHÍ. Những phía còn lại có những hướng tinh 6, 5, 4, 3, 2, tức là những số trước số 8 tối thiểu là 2 số nên đều là những khu vực có TỬ KHÍ. Đó là mới chỉ xét về Hướng tinh. Sau đó lần lượt làm như vậy với Sơn tinh để tìm ra những khu vực có Sinh- Vượng khí hay Suy-Tử khí.

* Thí dụ 2: Cũng nhà tọa TÝ hướng NGỌ, xây xong và vào ở năm 2000 (tức vận 7).

Đến năm 2007 mới coi Phong thủy. Vì nhà còn mới, chưa tu sửa gì nhiều, chủ nhà cũng chưa bao giờ đi xa quá 1 tháng, cho nên khi lập trạch vận thì vẫn phải dùng Vận 7 để lập Vận bàn. Sau đó lấy Tọa, Hướng bàn thì sẽ thấy Hướng tinh 7 tới phía BẮC, Hướng tinh 8 tới phía TÂY NAM. Hướng tinh 9 tới phía ĐÔNG, Hướng tinh 1 tới phía ĐÔNG NAM. Vì nhà này nhập trạch trong vận 7, nên lúc đó phía BẮC có Hướng tinh số 7, nên là 1 khu vực tốt (đắc VƯỢNG KHÍ). Còn phía ĐÔNG NAM có Hướng tinh số 1, lúc đó trong Vận 7 còn là Tử khí nên là 1 khu vực xấu. Nhưng đến năm 2007 mới coi Phong thủy thì đã qua Vận 8, nên lúc đó khu vực phía BẮC có số 7 là bị SUY KHÍ, nên đã biến thành xấu. Còn khu vực phía TÂY NAM có hướng tinh số 8, lúc này đã trở thành VƯỢNG KHÍ, nên là khu vực tốt nhất của căn nhà. Rồi Hướng tinh số 1 đang là TỬ KHÍ của vận 7 trở thành SINH KHÍ của vận 8, nên khu vực phía ĐÔNG NAM cũng đang từ xấu mà biến thành tốt.

Cho nên sự biến đổi của Sơn, Hướng tinh: từ Sinh-Vượng thành Suy-Tử, rồi từ Suy-Tử trở thành Sinh-Vượng là điều mà người học Huyền Không cần để ý, và nó cũng là 1 trong những yếu tố giúp cho việc giải đoán Phong thủy thêm phần linh hoạt và uyển chuyển, chính xác hơn.

Sau khi đã phân biệt Cửu khí thành SINH-VƯỢNG-SUY-TỬ cho mỗi vận thì mới xét tới mức độ ảnh hưởng của chúng như sau:

– SINH KHÍ: có tác dụng tốt, tuy ảnh hưởng lâu dài và trong tương lai, nhưng cũng cần được phát huy.

– VƯỢNG KHÍ: có tác dụng tốt đẹp và mau chóng, nhất là trong lúc còn đương vận, cho nên cần được phát huy càng sớm càng tốt.

– SUY KHÍ: vì chỉ là khí suy nên tác dụng cũng chưa đến nổi xấu lắm (ngoại trừ các khí 2, 5, 7) cho nên tuy cần phải né tránh nhưng cũng không phải là tuyệt đối.

– TỬ KHÍ: là những khí xấu cần phải né tránh, nếu không sẽ có tai họa về nhân sự, sức khỏe hoặc tiền bạc.

Kế đó lại còn phải phân biệt những khí SINH-VƯỢNG-SUY-TỬ đó là Sơn tinh hay Hướng tinh. Nếu là Sơn tinh thì sẽ có ảnh hưởng đến nhân sự (số lượng người nhiều, ít, tài giỏi hay không…trong nhà). Nếu là Hướng tinh thì sẽ có ảnh hưởng đến sức khỏe và tài lộc của gia đình đó.

Trong “Thiên ngọc kinh Ngoại thiên” của Dương công Chẩm có viết: “Sơn quản nhân đinh, Thủy quản tài lộc”. Chữ “Sơn” ở đây không chỉ có nghĩa là “núi”, mà còn là Sơn tinh của 1 trạch vận. Cũng như chữ “Thủy” không chỉ có ý nghĩa là “sông nước”, mà còn là Hướng tinh (do quan niệm phương tọa cần có núi, phía trước cần có thủy). Cho nên Sơn tinh chủ về nhân đinh, còn Hướng tinh chủ về tài lộc.

Vì đã gọi là “Sơn”, nên Sơn tinh nếu muốn phát huy tác dụng (hay đắc cách) thì cần phải có núi cao (hay nhà hoặc cây cao…). Vì đã gọi là “Thủy”, nên Hướng tinh nếu muốn phát huy tác dụng thì cần phải gặp nước (thủy). Nhưng không phải Sơn tinh nào cũng cần phải gặp núi, mà chỉ có những Sơn tinh đang là khí Sinh, Vượng mà thôi. Chẳng hạn như trong vận 1 thì các Sơn tinh 1 (vượng khí), 2, 3 (sinh khí) đóng ở khu vực nào thì cần có núi hay nhà cao ở tại khu vực đó. Có như vậy thì gia đình đó nhân đinh đông đúc, lại chủ xuất hiện người tài giỏi, có danh, có tiếng. Ngược lại, những khu vực có những Sơn tinh là Suy khí hay Tử khí thì lại cần thấp, trống hay bằng phẳng. Nếu tại những khu vực đó mà có núi hay nhà cao… thì sẽ có tai họa về nhân đinh như hiếm người, con cái khó lấy chồng, lấy vợ, hoặc trong nhà xuất hiện cảnh chia ly, góa bụa, cô quả…

Đó chỉ là riêng đối với các trường hợp khí SINH, VƯỢNG, SUY, TỬ của Sơn tinh. Còn đối với các trường hợp của Hướng tinh cũng thế. Tuy rằng Hướng tinh cần có Thủy, nhưng chỉ những khu vực nào có Sinh khí hay Vượng khí của Hướng tinh mới cần có Thủy như sông, hồ, ao, biển hoặc buồng tắm, nhà vệ sinh, đường xá, cửa ra vào… Nếu được như thế thì tài lộc dồi dào, của cải sung túc, công việc làm ăn ổn định… Ngược lại, nếu những khu vực có Suy, Tử khí của Hướng tinh mà lại có “THỦY” thì nhà đó tài lộc túng thiếu, dễ bị hao tán tiền của, công ăn việc làm lụn bại…

Thí dụ 3: nhà hướng 30 độ, tức tọa MÙI hướng SỬU, vào ở trong vận 8.

Nếu lập Trạch vận thì sẽ thấy các Hướng tinh 8 (Vượng khí), 9, 1 (Sinh khí) ở các khu vực phía ĐÔNG BẮC, TÂY và TÂY BẮC. Cho nên những khu vực này (bên trong hay bên ngoài nhà) cần có thủy của sông hồ, ao biển, buồng tắm, cửa ra vào … Còn khu vực phía NAM có hướng tinh 7 (Suy khí) nên không nên có thủy, nếu có tất nhà sẽ dễ bị trộm cướp quấy phá. Những khu vực còn lại cũng toàn là Tử khí của Hướng tinh nên đều không nên có thủy hoặc cửa ra vào.

Kế đó lại xét tới những trường hợp của các Sơn tinh. Vì các Sơn tinh số 8 (Vượng khí), 9, 1 (Sinh khí) nằm tại các khu vực phía TÂY NAM, BẮC và NAM, nên nếu những khu vực này mà có núi hay nhà cao… thì nhà này sẽ đông con, nhiều cháu, con cái tài giỏi, nên người… Các khu vực còn lại thì chỉ toàn là Suy khí hay Tử khí của Sơn tinh, nên nếu có núi hay nhà cao tất sẽ làm phương hại tới nhân đinh của căn nhà này.

Sau khi đã biết và phân biệt được những yếu tố trên rồi mới có thề xét tới trường hợp cơ bản đầu tiên của Phong thủy Huyền Không là Vượng sơn, Vượng hướng. Như chúng ta đã biết, Phong thủy bắt đầu từ Hình tượng, rồi sau này mới phát triển lên tới Lý khí và Vận số. Mà Hình tượng phái (tức Loan đầu phái) thường chủ trương nhà cần có núi bao bọc, che chở nơi phía sau (Huyền Vũ), còn phía trước thì cần phải trống thoáng, có sông, hồ phản chiếu ánh sáng để tích tụ Long khí (Chu Tước), đồng thời có cửa ra vào để hấp thụ Long khí. Còn đối với Phong thủy Huyền không thì khi cất nhà phải chọn hướng như thế nào cho Vượng khí của Hướng tinh tới Hướng (tức phía trước), còn Vượng khí của Sơn tinh tới phía sau. Phối hợp giữa Hình tượng với Lý khí (tức phi tinh) thì nhà này sẽ có Vượng khí của Hướng tinh tới phía trước, đắc Thủy của sông hồ, lại có lối ngõ, cửa nẻo vào nhà nên tài lộc đại vượng. Còn Vượng khí của Sơn tinh tới phía sau gặp núi nên chủ vượng nhân đinh, con cháu đông đúc, nhân tài xuất hiện nên là cách cục “phúc lộc song toàn”. Cho nên Vượng Sơn, Vượng Hướng (còn gọi là ĐÁO SƠN, ĐÁO HƯỚNG, vì vượng khí của Sơn tinh tới tọa, vượng khí của Hướng tinh tới hướng) là cách cục cơ bản của Phong thủy và Huyền Không. Những nhà có cách cục như vậy còn được gọi là những nhà có “Châu bảo tuyến” (hướng nhà quý như châu báu). Điểm quan trọng của những trường hợp này là giữa hình thế bên ngoài (Loan đầu) và phi tinh có sự tương phối thích hợp. Ngược lại, nếu 1 căn nhà phía trước cũng có sông hồ, phía sau cũng có núi cao. Nhưng do việc chọn hướng không thích hợp, hoặc do xây dựng không đúng lúc mà khi lập Trạch vận thì Vượng khí của Sơn tinh lại tới hướng (phía trước), còn vượng khí của Hướng tinh lại tới tọa (phía sau) thì tuy hình thế chung quanh của ngôi nhà là tốt, nhưng do không ứng hợp được với phi tinh nên lại chủ phá tài, tổn đinh, tan cửa nát nhà mà thôi. Đây còn gọi là cách cục “Thượng sơn, Hạ thủy” sẽ nói ở 1 phần khác.

Một điểm cần chú ý trong cách cục “vượng Sơn, vượng Hướng” (hay “Đáo Sơn, Đáo Hướng”) này là tuy trên lý thuyết thì các nhà Phong thủy thường coi những nhà có vượng khí của Hướng tinh tới phía trước, còn vượng khí của Sơn tinh tới phía sau nhà là cách cục “vượng Sơn, vượng Hướng”. Nhưng điều quan trọng là ngoại hình bên ngoài của căn nhà (Loan đầu) có phù hợp với vượng khí của Sơn và Hướng tinh hay không? Nếu phù hợp thì mới thật sự là cách cục “vượng Sơn, vượng Hướng”, và nhà mới phát phúc, phát lộc. Còn nếu ngoại hình không phù hợp thì sẽ biến thành cách cục “Thượng Sơn, Hạ Thủy” mà gây ra hung họa đầy dãy. Nhưng thế nào là phù hợp hay không phù hợp? Như chúng ta đã biết, Sơn tinh mà muốn đắc cách thì phải đóng ở những khu vực có núi cao. Còn Hướng tinh mà muốn đắc cách thì phải đóng ở những khu vực có Thủy như sông biển hoặc đường đi hay cửa nẻo ra vào nhà… Cho nên những nhà mà có vượng khí của Hướng tinh tới phía trước thì còn đòi hỏi khu vực phía trước của nhà đó phải trống, thoáng, có thủy hay đường đi, cửa ra vào… Còn vượng khí của Sơn tinh đến phía sau cũng đòi hỏi khu vực phía sau nhà có núi hay nhà cao… Có như thế mới được coi là thật sự đắc cách “Đáo Sơn, Đáo Hướng” mà đinh, tài đều vượng. Ngược lại, nếu như nhà đó có vượng khí của Hướng tinh tới phía trước, nhưng phía trước nhà lại có núi hay nhà cao, hoặc bị gò đất nhô lên, hay bị cây cối rậm rạp, um tùm che chắn… tức là vượng khí của Hướng tinh không gặp “Thủy” mà lại gặp “Sơn”. Còn vượng khí của Sơn tinh tuy tới phía sau, nhưng phía sau nhà lại không có núi hay nhà cao, mà lại có sông, hồ, ao, biển, hoặc cống rãnh…, tức là vượng khí của Sơn tinh không gặp “Sơn” mà lại gặp “Thủy”. Đó đều là những cách cục suy bại về tài lộc và nhân đinh. Cho nên mới nói giữa phi tinh và ngoại hình Loan đầu bên ngoài phải có sự phù hợp là như vậy. Nếu phù hợp thì mới thật sự là “vượng”, và mọi sự mới được tốt đẹp. Còn nếu như trái ngược (tức không phù hợp) thì dù có “vượng” cũng sẽ thành “suy” và phát sinh ra muôn vàn tai họa.

11. Thượng Sơn, Hạ Thủy

“Thanh nang Tự” viết: “Long thần trên núi không được xuống nước, Long thần dưới nước không được lên núi”. Đây là 1 nguyên lý trọng yếu của Huyền Không, hay như Thẩm trúc Nhưng nói là “then chốt của cát, hung, họa, phúc”.

Như chúng ta đã biết “Sơn quản nhân đinh, Thủy quản tài lộc”. Chữ “Sơn” ở đây không những chỉ nói về “Núi”, mà còn dùng để ám chỉ những phi tinh của Sơn bàn (tức Sơn tinh). Cũng như chữ “Thủy” ở đây không những chỉ nói về “Nước”, mà còn dùng để ám chỉ những phi tinh của Hướng bàn (tức Hướng tinh). Cho nên Sơn tinh chủ về nhân đinh, Hướng tinh chủ về tài lộc. Chính vì thế nên khí sinh, vượng của Sơn tinh cần đóng tại những nơi có núi hay gò đất cao, hay những nơi có nhà cửa, cây cối cao lớn. Như thế là những cách cuộc Sơn tinh đắc cách, chủ người trong nhà tài giỏi, đông đúc, thành công sớm, tên tuổi vang dội… Còn khí sinh, vượng của Hướng tinh thì cần đóng tại những nơi có sông, hồ, ao, biển, đường rộng, ngã ba, ngã tư hay cửa ra vào… Đó là những cách cuộc Hướng tinh đắc “Thủy”, nên tài lộc của gia đình sẽ không bao giờ thiếu, công việc làm ăn ổn định…

Ngược lại, nếu những nơi có khí sinh, vượng của Sơn tinh lại không có núi hay nhà cao, cây cao, nhưng lại có Thủy của sông, hồ, ao, biển, hoặc là những vùng thấp, trũng… thì sẽ chủ gia đình ly tán, cô quả, tuyệt tự hoặc yểu chiết… Cho nên mới nói “Long thần trên núi không được xuống nước”. Chữ “Long thần trên núi” thực ra là để ám chỉ Sơn tinh. Sơn tinh nếu là khí sinh, vượng so với đương vận thì không thể đóng tại những nơi thấp, trũng hoặc có nước (hạ thủy), kẻo nếu không thì sẽ có tai họa cho nhân đinh.

Tương tự như thế, nếu những nơi có khí sinh, vượng của Hướng tinh lại không có Thủy của sông, hồ, ao, biển, đường đi hoặc cửa ra vào…, nhưng lại có núi hay nhà cao, cây cao thì sẽ chủ tài lộc khó khăn, công việc làm ăn lụn bại, gia cảnh lầm than, sa sút. Cho nên mới nói “Long thần dưới nước không được lên núi”. Chữ “Long thần dưới nước” là để ám chỉ Hướng tinh. Hướng tinh nếu là khí sinh, vượng so với đương vận thì không thể đóng tại những nơi cao ráo hoặc có núi đồi (thượng sơn), kẻo nếu không sẽ có tai họa về tiền bạc. Đây chính là cách cuộc “Thượng sơn, Hạ thủy” trong Huyền không học.

Thí dụ: nhà tọa Sửu hướng Mùi, nhập trạch trong vận 8. Nếu lập trạch vận thì sẽ thấy tinh bàn của căn nhà

Trước hết xét về Sơn tinh, ta thấy các khu vực TÂY, TÂY BẮC và ĐÔNG BẮC của căn nhà này có các số 9, 1, và 8, tức là những sinh, vượng khí của Sơn tinh (so với đương vận, tức vận 8). Nếu những khu vực này chỉ toàn là sông, hồ, hoặc đường đi, chứ không có núi hay nhà cao thì nhà này đã phạm cuộc “Hạ thủy”, chủ nhân đinh suy bại. Sau đó, lại xét về Hướng tinh, ta thấy các khu vực phía BẮC, NAM và TÂY NAM có các số 9, 1 và 8, tức là những sinh, vượng khí của Hướng tinh trong vận 8. Nếu những khu vực này không có Thủy, mà lại có núi đồi hay nhà cao, cây cao, thì căn nhà này còn phạm thêm cuộc “Thượng sơn”, chủ suy bại cả về tài lộc nữa.

Cũng tương tự như những trường hợp “vượng Sơn, vượng Hướng” (hay “Đáo Sơn, Đáo Hướng”) là trên lý thuyết thì các nhà Phong thủy thường cho những nhà có vượng tinh của Hướng đến tọa, vượng tinh của Sơn đến hướng là thuộc cách cuộc “Thượng sơn, Hạ thủy”, và gọi những nhà lập trạch vận theo những hướng đó là những nhà có “Hỏa Khanh tuyến” (tức hướng xấu hay bần tiện). Nhưng trên thực tế thì còn phải tùy thuộc vào bối cảnh Loan đầu bên ngoài của căn nhà đó như thế nào rồi mới có thể kết luận là nhà đó có bị “Thượng sơn, Hạ thủy” hay không được.

Thí dụ: nhà tọa Khôn hướng Cấn, xây và vào ở (nhập trạch) trong vận 8. Nếu lập trạch vận thì tinh bàn căn nhà sẽ như

Trước hết xét về Sơn tinh, ta thấy khu vực ĐÔNG BẮC có Sơn tinh 8, tức là vượng khí của Sơn tinh tới hướng, nên trên lý thuyết là phạm cuộc “Hạ thủy” (vì vượng tinh của Sơn tới hướng (phía trước nhà). Nhưng nếu khu vực này không có sông, hồ, ao, biển, mà lại có núi đồi hay nhà cao, thì vượng khí của Sơn tinh nhà này đã đắc cách, tức là đóng tại chỗ có cao sơn thực địa, cho nên trong nhà nhân đinh vẫn đông đúc, chứ không bị suy bại. Sau đó lại xét tới Hướng tinh, ta thấy khu vực phía TÂY NAM có Hướng tinh 8, tức là vượng khí của Hướng tinh tới phương tọa, nên trên lý thuyết là phạm cuộc “Thượng sơn”. Nhưng nếu khu vực này không có núi, đồi hoặc nhà cao, mà lại có Thủy hoặc đường đi, cửa ra vào… thì vượng khí của Hướng tinh nhà này vẫn đắc cách, tức là đóng tại chỗ có Thủy nên tiền của, tài lộc của gia đình này vẫn dồi dào, sung túc.

Cho nên điều quan trọng là phải phối hợp phương vị của phi tinh với địa hình bên ngoài thì mới có thể xác quyết được chính xác mọi trường hợp tốt, xấu, chứ không thể mới nhìn thấy 1 căn nhà có vượng tinh của Hướng tới phía trước, vượng tinh của Sơn tới phía sau mà đã vội cho là căn nhà tốt. Hoặc mới thấy 1 căn nhà có vượng tinh của Hướng tới phía sau, vượng tinh của Sơn tới phía trước mà đã vội cho là căn nhà xấu thì sẽ dẫn tới những sai lầm đáng tiếc.

Một điểm cần chú ý khác là tuy Sơn tinh cai quản về nhân đinh, và cần đóng tại những chỗ cao sơn thực địa, nhưng chỉ có những sinh, vượng khí của Sơn tinh mới nên gặp núi đồi hoặc nhà cao mà thôi. Còn những khí suy, tử của Sơn tinh thì lại không nên đóng ở những nơi đó, mà chỉ nên đóng ở những chỗ bằng phẳng hoặc có Thủy mà thôi. Nếu chẳng may mà nhà lại có khí suy, tử của Sơn tinh đóng tại những chỗ cao hoặc núi đồi thì sẽ gặp tai họa do những đối tượng đó gây ra. Thí dụ như hiện tại đang trong vận 8, nên nếu 1 nhà có sơn tinh Thất xích (số 7) đóng tại khu vực có núi hay nhà nhà cao chót vót thì sẽ bị tai họa do Sơn tinh Thất xích mang tới. Vì Thất xích là biểu tượng của kẻ tiểu nhân hay giặc cướp, nên nhà này sẽ thường xuyên bị bọn trộm cướp tới phá phách, hoặc ra ngoài bị kẻ tiểu nhân tìm cách hãm hại…

Tương tự như thế, đối với Hướng tinh tuy cai quản về tài lộc, và cần đóng tại những chỗ thấp trũng hoặc có thủy, nhưng chỉ có những sinh, vượng khí của Hướng tinh mới cần thỏa mãn điều kiện này mà thôi. Còn đối với những suy, tử khí của Hướng tinh nếu gặp Thủy sẽ chủ gây ra những tổn thất về tiền bạc, hoặc những bệnh tật, tai họa, tùy theo tính chất của Hướng tinh đó như thế nào.

Lấy thí dụ như 1 nhà trong vận 8, có hướng tinh Nhị hắc gặp thủy, cho nên nhà này vừa bị hao tiền, vừa thêm bệnh tật nhiều, nhất là về tỳ vị, sảy thai, hỏa hoạn, hình ngục, tai nạn xe cộ. Trong nhà dễ có quả phụ hoặc ni cô…

Cho nên đối với những Hướng tinh là khí suy, tử thì lại nên đóng ở những chỗ cao ráo hoặc yên tĩnh. Có như thế thì mới tránh nỗi họa mà thôi. Còn nếu như khí suy, tử của Sơn tinh mà còn đóng ở những nơi có núi hay nhà cao, khí suy tử của Hướng tinh đóng ở những nơi có thủy hoặc cửa nẻo ra vào nhà thì tức là cảnh “HUNG TINH ĐẮC CÁCH”, tai họa còn khủng khiếp hơn là cách cục “thượng Sơn, Hạ Thủy” nữa.

Nói tóm lại thì sinh, vượng khí của Sơn tinh phải đóng ở những chỗ cao ráo, còn sinh, vượng khí của Hướng tinh cần gặp thủy. Nếu được như thế là nhà có phúc, có lộc, còn nếu ngược lại là cảnh bần tiện, nghèo hèn. Cho nên người học Huyền không phải dựa vào những tiêu chuẩn này mà chọn phương lập hướng cho đúng, tức là phải kiếm cho được những nhà đắc “vượng Sơn, vượng Hướng” (hay “Đáo Sơn, Đáo Hướng”), và phải xa lánh những nhà có cách cuộc “Thượng Sơn, Hạ Thủy” mới được. Ngoài ra cũng cần phải để ý, không bao giờ để cho những khí suy, tử của Sơn, Hướng tinh có thể trở thành “Hung tinh đắc cách” mà gieo rắc tai họa cho người ở trong nhà được.

Xem tiếp: Huyền không phi tinh toàn tập – phần 2

Phong Thủy Huyền Không Phi Tinh Là Gì?

Phong thủy huyền không phi tinh là gì?

Đặc điểm của phong thủy học được phân biệt với các môn học khoa học tâm linh khác như xem ngày, xem tuổi, xem tử vi bởi quan điểm của phong thủy dựa trên các nghiên cứu về vật chất, những quy luật của vũ trụ tâm linh và dựa vào 3 trường phái phong thủy phổ biến:

Thứ nhất

Phong thủy cảnh quan (phong thủy địa lý) nghĩa là lấy quy luật của văn hóa Dịch học như Ngũ hành, Hà Đồ Lạc Thư, Bát quái…ứng dụng trong cuộc sống hiện đại để có thể sắp xếp và bố trí trang thiết bị nội thất nhà ở, cửa hàng hay văn phòng…

Thứ hai

Phong thủy Bát Trạch (phong thủy phương hướng), cũng có thể dựa trên Dịch học để có thể làm cơ sở xác định, điều chỉnh phương vị, màu sắc và chọn hoa văn hình ảnh để tạo nên môi trường tốt nhất cho sức khỏe, tinh thần và sự nghiệp tương lai luôn hanh thông.

Thứ ba

Đó chính là phong thủy huyền không phi tinh đã được khoa học nghiên cứu và đánh giá chi tiết về sự dịch chuyển của các sao trong phong thủy bát trạch: Nhất Bạch tinh, nhị Hắc tinh, tam Bích tinh, tứ Lục tinh, ngũ Hoàng tinh, lục Bạch tinh, thất Xích tinh, bát Bạch tinh, cửu Tử tinh. Với mỗi sao sẽ có được quy luật di chuyển và cùng nắm giữ những đại vận khác nhau.

Nói theo cách khác, phong thủy huyền không hay huyền không phi tinh dựa vào các quy luật thiên văn học đã trải qua nhiều đời và cần dựa trên cơ sở của chính sự dịch chuyển của các chòm sao (tinh tú). Từ đó, bạn có thể dự đoán được những điều may hoặc điểu dự và cùng đưa ra những biện pháp tối ưu có lợi nhất cho con người và hạn chế đến mức tối đa nhất các thiệt hại.

Phong thủy huyền không học có cốt chính dựa vào sự dịch chuyển của 9 con số nương theo quỹ đạo của Lượng thiên xích nằm trên Bát quái để có thể đón định những điềm lành hay điềm hung theo dương trạch và âm trạch một cách chính xác nhất.

Cửu Cung Phi Tinh 2022 Canh Tý

Năm Canh Tý 2020, thuộc Kim Thuỷ, Phi tinh lưu niên Thất xích nhập Trung Cung (giữa nhà) thuộc Canh-Tân, hành Kim, chủ về danh tiếng, thị phi, miệng lưỡi…

Sự cát hung của mỗi sao sẽ được giới thiệu như sau…sẽ cho các bạn hiểu sâu từng sao bay vào mỗi phương hướng:

1- Đông bắc – Nhất Bạch (hành Thủy) – cát tinh chủ về nhân duyên, tài phú.

Nhất Bạch Tham Lang (Thuỷ) nhập vào phương Đông Bắc, đây là sao chủ về sinh khí, vượng đào hoa, thế nên phương vị Đông Bắc có thể coi là đào hoa vị 2020, 1 trong những vị trí may mắn cát tường nhất trong nhà.

Tham Lang tinh còn đại diện cho dục vọng, tình cảm của con người, vì thế nó cực kỳ có lợi cho nam nữ mệnh còn độc thân, giúp cho những người này tìm kiếm được nhiều cơ hội tình yêu mới, tăng khả năng có được hạnh phúc cho riêng mình. Không những thế, Nhất Bạch Tham Lang còn có sức ảnh hưởng tới sự nghiệp, tài vận của gia chủ.

Đông Bắc ngũ hành thuộc hành Kim, Nhất Bạch thuộc hành Thủy, trong năm 2020 cung tinh tương sinh nên nếu biết cách bài trí phong thủy đúng thì tình duyên vượng, thêm người thêm của, mà phong thủy xấu thì dễ dẫn tới cảnh âm thịnh dương suy, gia đạo kém an yên người nhà ốm đau bệnh tật nhất là về dạ dày, đường tiêu hóa …

Cách vượng khí:

“cần Kim, đôi chim uyên ương trong phòng ngủ, ảnh minh tinh (độc thân), ảnh cưới, “

Với những bạn còn độc thân, muốn tìm cho mình 1 nửa phù hợp thì có thể đặt vật phẩm phong thủy vượng tình duyên ở góc Đông Bắc trong phòng ngủ hay phòng khách của nhà mình.

Với những bạn đã có đôi có cặp hay đã kết hôn thì cần phải xem xét thêm về mẹo phong thủy tình yêu hôn nhân để hóa giải phong thủy xấu, tránh xảy ra chuyện ngoại tình. Gia đình có trưởng nữ hay phụ nữ trẻ tuổi càng phải lưu ý.

Nên giữ cho phương vị Nhất Bạch sạch sẽ gọn gàng. Nếu trong nhà có thai phụ thì cần lưu ý giữ gìn sức khỏe, nam nữ chưa lập gia đình cũng nên có biện pháp phòng tránh thai phù hợp.

Đối với các bạn làm nghề cần đến việc giao tiếp, thiết lập mối quan hệ với khách hàng thì nên lưu ý tới góc Đông Bắc trong nhà, giữ sạch sẽ để vận trình thêm vượng, tốt cho công việc của mình.

2- Nam – Nhị Hắc (hành Thổ) – chủ về bệnh tật, đau ốm.

Nhị Hắc thuộc Thổ (Thích tĩnh, không nên động) cũng là 1 trong những hung tinh cần phải e ngại, bởi nó còn được gọi với cái tên là Bệnh Phù tinh, chuyên chủ về bệnh tật, thương vong, đau yếu. Sao Nhị Hắc nhập vào phương Chính Nam, có thể sẽ ảnh hưởng khá nhiều đến tình hình sức khỏe của những người sống trong nhà.

Nếu gia chủ thấy: chỗ ngồi, giường ngủ hay bếp nấu của gia đình nằm ở phương Chính Nam trong nhà thì khả năng các thành viên trong gia đình sẽ dễ có nguy cơ gặp bệnh tật, tai họa, phải ra vào viện liên miên.

Phương vị mà sao Nhị Hắc ngự trị nên tránh để những đồ vật mà con người dùng để nghỉ ngơi như bàn ghế, sofa, bàn ăn, giường ngủ…

Cần lưu ý theo dõi tình hình sức khỏe của bản thân và gia đình để có phương án xử lý kịp thời, tránh hậu quả không mong muốn. Có thể chủ động đi kiểm tra sức khỏe tổng thể để phát hiện sớm bệnh tật và theo dõi tình hình sức khỏe của mình. Phương vị Nhị Hắc nên tránh để đồ đạc bừa bãi như làm nhà kho, chỗ để rác… cố gắng sắp xếp đồ đạc gọn gàng, sạch sẽ, đủ ánh sáng.

Cách hóa giải:

“Xâu tiền 6 đồng, hủ tiền đồng, vật bằng kim loại, thảm màu xám, đủ ánh sáng và sạch sẽ”

Thích tĩnh, không nên động: nếu để điều hòa, quạt máy, cửa sổ ở phương vị Chính Nam thì có thể khuếch tán bệnh khí đi khắp nhà, có thể di chuyển vị trí của điều hòa, quạt máy hoặc hạn chế mở cửa sổ ở phương vị này. Cũng có thể hóa giải bằng cách đặt những linh vật như cối xay gió bằng đồng, ngọc khắc “ngũ bảo thú” hay tranh vẽ phượng hoàng ở phương vị Đông Nam của phòng ngủ hoặc phòng khách.

Có thể chủ động đi khám sức khỏe ở bệnh viện thì giúp cho tai họa tiêu tan, ngụ ý rằng bản thân trong năm đã từng đến bệnh viện. Tùy theo khả năng kinh tế, gia chủ có thể làm việc thiện, quyên góp đồ vật hay tiền bạc cho những người có hoàn cảnh khốn khó hơn mình, cũng là tích phúc cho bản thân và gia đình.

3- Bắc – Tam Bích (hành Mộc) – hung tinh chủ về sự tranh chấp, thị phi, hao tốn.

Tam Bích (Mộc) tinh bay vào phương Bắc. Tam Bích là hung tinh chủ về thị phi, miệng lưỡi. “Thích tĩnh, không nên động”

Ngũ hành thuộc Mộc, nên khắc không nên sinh trong khi năm 2020 cung tinh tương sinh, Mộc khí vượng nên nó sẽ ảnh hưởng chủ yếu đến những chuyện thị phi khẩu thiệt của người trong nhà, có thể khiến cho gia chủ vướng phải rắc rối thị phi, thậm chí là gặp họa kiện tụng…, mệnh chủ nên lưu tâm để tránh xảy ra những xung đột, mâu thuẫn trong gia đình, chuyện to hóa nhỏ, chuyện nhỏ hóa không có, đừng vì hơn kém nhau lời nói mà tranh cãi không thôi.

Song nếu phong thủy xấu thì vận trình trong năm này sẽ thăng trầm bất định bởi thị phi luôn vây hãm, mâu thuẫn gia đình cũng theo đó mà tới, gia đạo bất an mà sự nghiệp cũng bất ổn, tài lộc thì tiêu tán….

Kỵ Thuỷ Mộc, kỵ động thổ, kỵ xanh lá, cây cối. Cần Hoả

Cách hóa giải:

“Màu đỏ, thảm đỏ, tranh mặt trời, sư tử đá, hoa đỏ”

Với những người theo nghề nghiệp đặc thù như quan tòa, nhân viên tòa án, luật sư, diễn giả, vận động viên… thì ngược lại sẽ mang tới lợi ích không ngờ, giúp cho công việc suôn sẻ thuận lợi.

Không được tiến hành những hoạt động như sửa chữa, động thổ. Kỵ dùng màu xanh lá, xanh lam ở đây, cũng không nên trồng cây lá xanh ở góc này trong nhà.

Nếu cửa chính, phòng ngủ, phòng làm việc nằm trúng phương vị này thì trong năm có thể sử dụng tấm thảm màu đỏ hay màu tím đặt ở trước cửa để hóa giải bớt sát khí.

Ngoài ra, năm 2020 này có tượng báo họa quan tụng nên gia chủ làm gì cũng nên nhớ phải tuân thủ luật pháp. Nếu xử lý giấy tờ, hợp đồng thì phải cực kỳ cẩn trọng để tránh mắc phải sai sót không đáng có.

Gia chủ cũng có thể sắp xếp công việc đến cơ quan chính quyền 1 lần, ngụ ý đã tới chốn công quyền, họa thị phi quan tụng cũng có thể giảm nhẹ phần nào.

4- Tây Nam – Tứ Lục (hành Mộc) – cát tinh chủ về học hành, trí thức, học vấn.

Tứ Lục (Mộc) Văn Xương tinh tuy là thoái vận tinh nhưng về cơ bản vẫn được coi là cát tinh bởi có tác dụng thúc đẩy vận trình sự nghiệp hay học hành. Quản về chuyện học hành, công việc, thi cử, nghề nghiệp… của gia đình sẽ vô cùng suôn sẻ và thuận lợi, nhất là những người đang theo đuổi nghiệp bút nghiên.

Sao Tứ Lục năm 2020 bay vào phương Tây Nam, đây cũng chính là Văn Xương vị năm 2020. Phương Tây Nam ngũ hành thuộc Mộc, trong năm 2020 cung tinh tương khắc, có sức ảnh hưởng khá lớn đến con đường học hành, công danh sự nghiệp của người trong nhà.

Cách vượng khí

“Nơi ngồi đọc sách, học hành, cần Cây xanh, màu xanh lá, Mèo hổ”

Bạn nên kê bàn học hay giường ngủ của con trẻ ở phương vị này trong nhà để giúp con học hành tập trung hơn, hiệu quả học tập nâng cao, thành tích ngày càng tấn tới.

Cách này cũng có thể áp dụng với bàn làm việc và giường ngủ của cha mẹ, đặc biệt thích hợp với nam chủ nhân của căn nhà, sự nghiệp sẽ càng ngày càng thăng hoa rực rỡ. Tại góc Tây Nam trong nhà hay trong phòng, bạn có thể đặt 4 cây cảnh lá xanh quanh năm để tạo góc phong thủy hợp với Văn Xương vị năm 2020. Cũng có thể đặt tháp Văn Xương hay giá bút phong thủy lên trên bàn làm việc để giúp sao Tứ Lục Văn Xương có thể phát huy hiệu quả tốt nhất.

* Đăng ký kên Youtube để nhận video mới nhất

5- Đông – Ngũ Hoàng Đại Sát (hành Thổ) – đại hung tinh .

Ngũ Hoàng bay về phương Chính Đông. Thích tĩnh không nên động. Ngũ Hoàng Liêm Trinh còn gọi là Ngũ Hoàng sát, Chính Quan sát, là 1 trong những “Hung tinh lớn nhất” đại diện cho những chuyện hung hiểm như tai nạn bất ngờ, bệnh tật, họa huyết quang, thương vong… phương Chính Đông 2020 sẽ là phương vị chứa nhiều hung hiểm nhất trong nhà, có sức ảnh hưởng cực kỳ lớn đến toàn bộ trường khí trong gia đình. Dù là sức khỏe, công việc, tình cảm hay tài vận của người trong gia đình cũng sẽ bị hung tinh này tác động xấu, gây sa sút vận trình.

Vì thế, nếu cửa chính, cửa phòng hay cửa sổ, chỗ ngồi, salon, giường ngủ, bếp nấu trong nhà mà nằm ở đúng phương vị Chính Đông thì cần phải cẩn thận, đặc biệt cẩn thận bởi trong năm 2020 sẽ rất có thể gặp phải đủ chuyện tai họa bất ngờ.

Không được phép động thổ ở phương vị này trong năm Canh Tý. Ở góc Chính Đông trong nhà cũng không nên dùng đồ màu đỏ hay vàng, bởi đó là màu sắc không tốt theo phong thủy, bởi nó là những màu thuộc hành Thổ, sẽ bổ sung thêm vượng khí cho hung tinh Ngũ Hoàng.

Cũng may là Ngũ Hoàng thuộc hành Thổ mà năm 2020 cung tinh tương khắc của Mộc nên sẽ giảm bớt những tác động xấu của hung tinh này đối với vận trình của gia trạch.

Cách hóa giải:

“Xâu tiền 6 đồng, hủ tiền đồng, vật bằng kim loại, thảm màu xám, đủ ánh sáng và sạch sẽ”

Nếu như nhà bạn có cửa chính, phòng ngủ hay nhà bếp nằm đúng ở phương Chính Đông – phương vị của Ngũ Hoàng sát thì trong năm 2020 nên đặt ở ngoài cửa nhà hay cửa phòng nên có “xâu tiền 6 đồng, hủ tiền đồng” hoặc 1 tấm thảm màu xám hay màu trắng để chặn bớt sát khí của hung tinh này. Ngoài ra, bản thân gia chủ cũng nên thận trọng khi xuất hành, tham gia giao thông bởi dễ gặp phải tượng hung hiểm tai nạn. Nên hạn chế các hoạt động mang tính mạo hiểm.

Ở góc Chính Đông trong nhà, gia chủ có thể treo 1 chuỗi tiền Lục Đế. Đây là vật phẩm phong thủy có thể hóa giải được hung sát của Ngũ Hoàng, giúp gia chủ gặp hung hóa cát, hóa nguy thành an.

* Đăng ký kên Youtube để nhận video mới nhất

6- Đông Nam – Lục Bạch (hành Kim) – cát tinh chủ sự thăng tiến về tài vận, quan lộc.

Lục Bạch Vũ Khúc tinh (Kim) bay vào cung Đông Nam, là sao thoái vận, vì thế trong năm nay cần lưu ý đến phương vị Đông Nam trong nhà.

Ngoài ra, sao Lục Bạch còn ảnh hưởng nhiều đến sự nghiệp của người trong gia đình, nhất là chủ nhân của căn nhà. Trẻ nhỏ học hành, thi cử cũng không được thuận lợi cho lắm.

Trong phong thủy nhà ở, phương vị mà sao Lục Bạch Vũ Khúc bay vào phải đặc biệt lưu ý, bởi nó đóng vị trí vô cùng quan trọng với vận trình của gia chủ. Đặc biệt, với những người không có việc làm ổn định, đang trong quá trình xin việc thì càng phải chú trọng hơn để có được vận khí tốt, tìm được công việc tốt.

Nếu không để tâm đến phương vị của Lục Bạch thì có thể sẽ phải chịu nhiều tổn thất trong cả cuộc sống và công việc. Kỵ Gương, Kim loại.

Cách hóa giải:

“Cần Thuỷ tiết hao Kim”

Không nên đặt gương, giá treo quần áo, đồ dùng bằng kim loại ở góc Đông Nam trong nhà. Người có bệnh về dạ dày, tỳ vị thì càng phải chú ý chăm sóc sức khỏe cho tốt. Nếu như bàn ghế, sofa, giường ngủ mà nằm ở phương Đông Nam trong nhà, trong phòng thì nên xem xét, có thể thay đổi vị trí thì nhanh chóng thay đổi vị trí. Bố cục phong thủy như vậy có thể khiến cho bạn gặp nhiều rắc rối trong cuộc sống, xảy ra những hiểu lầm, sai sót không đáng có. .

7- Trung cung – Thất Xích (hành Kim) – chủ về sự hao tán tài sản, công danh.

Trung cung: Thất Xích (Kim) nhập vào giữa nhà. Đây là sao thoái vận, đươc coi là 1 trong những sao cát hung vô thường, hay chủ về phá tài hao lộc nhưng nếu biết bố trí phong thủy hợp lý thì vẫn có thể thúc tài vượng vận.

Sao Thất Xích tượng trưng cho khẩu thiệt thị phi, phá hoại, thất thoát tiền bạc, tranh chấp, tửu sắc…. Kỵ Thổ: đồ gốm sứ.

Cách hóa giải:

“Tượng kỳ lân, Tỳ hưu”

Ở phương vị Trung cung trong nhà có thể đặt 1 đôi kỳ lân để hóa giải sát khí, giúp gia trạch thêm thịnh vượng.

8- Tây bắc – Bát Bạch (hành Thổ) – cát tinh chủ về sự thăng tiến về tài lộc, quan chức.

Bát Bạch hành Thổ. Đây chính là phương vị vượng nhất về tài lộc của năm Canh Tý, vì đang ở vận 8 (2004-2023)

Phương vị này cũng chính là Chính Tài vị năm 2020, là phương vị cát lành của nam chủ nhân trong nhà, giúp nam mệnh tài lộc tấn tới, vận trình thăng cấp. Năm này cung tinh tương sinh, Tây Bắc thuộc Kim, Bát Bạch thuộc Thổ, Thổ sinh Kim càng có lợi cho tài vận của gia chủ, vì thế nên học cách bài trí phong thủy tốt ở phương vị Tây Bắc trong nhà để phú quý tài lộc ùn ùn kéo tới mà tin vui tới tấp báo về, gia trạch hưng vượng.

Tuy nhiên, nếu không lưu ý đến phong thủy nhà ở mà bài trí không đúng thì có thể gây bất lợi cho gia chủ, nhất là nam mệnh, khiến cho gia chủ dễ lâm họa phá tài, tiền bạc tiêu tán.

Cách vượng khí:

“Khí lưu thông, sạch sẽ, có thể mở cửa đón khí, Tỳ hưu, màu đỏ, thảm đỏ”

Phương vị Tây Bắc là đại tài vị của năm 2020, muốn thúc vượng tài lộc thì cần phải giữ cho vị trí này trong nhà luôn sạch sẽ gọn gàng, sinh khí lưu thông thì tài khí mới dồi dào dễ tụ khó tán.

Nếu có thể thì nên mở cửa chính, cửa sổ hay đặt bếp, bàn ghế, giường ngủ ở phương vị này trong nhà. Trong trường hợp cửa chính, phòng ngủ, phòng làm việc vừa khéo ở phương Tây Bắc thì gia chủ có thể đặt thêm tấm thảm màu đỏ hay màu tím ở trước cửa để vượng càng thêm vượng.

Trong năm, gia chủ cũng có thể đặt tượng tỳ hưu phong thủy ở phương vị này trong nhà, giúp cho ngũ hành tương sinh, tài lộc sinh sôi nảy nở, hạn chế họa phá tài, đồng thời có thể chiêu tài giữ tài…

* Đăng ký kên Youtube để nhận video mới nhất

9- Tây – Cửu Tử (hành Hỏa) – cát tinh về chủ nhân duyên, tử tức:

Cửu Tử (Hoả) Đào hoa, nhân duyên. Quý nhân tinh là vì sao mang theo sinh khí, cũng chính là sao báo tin mừng, hỷ khánh. Nếu biết bài trí bố cục phong thủy hợp lý ở góc này thì gia chủ chẳng những đón nhiều chuyện cát tường hỷ khánh mà đường quan lộc, tài lộc cũng sẽ hanh thông, gia đình sớm có thêm người.

Nếu phong thủy sắp xếp phạm, gây bất hợp lý thì ngược lại có thể gây ra bệnh tật, tai họa, mâu thuẫn tình cảm, hao tài mất người… đối với gia chủ.

Ở hướng Nam trong nhà phải nhớ luôn luôn giữ cho sạch sẽ gọn gàng, để các luồng khí được luân chuyển thường xuyên, có ánh sáng đầy đủ thì mới giúp cho hỷ sự lâm môn, chuyện vui tới tấp. Nếu nhà có nữ chủ nhân thì càng phải lưu ý điểm này bởi Cửu Tử sẽ trợ giúp cho nữ mệnh rất nhiều trong cuộc sống.

Cách vượng khí:

“Màu đỏ, ngựa, Kỳ lân, tranh hoặc thảm đỏ.”

Ở phòng khách của gia đình, có thể đặt tượng kỳ lân ở phương vị Chính Nam, còn gọi là phương vị của Hỷ thần. Làm vậy có thể thúc vượng quý nhân, đón tin vui về nhà, vượng sự nghiệp, vượng cả gia trạch.

Để tăng thêm độ sáng của phương vị này, gia chủ có thể đặt thêm tấm thảm màu đỏ, có thể giúp cho phong thủy thêm thuận chiều. Gia đình có người sức khỏe kém, nhất là về tỳ vị, dạ dày thì càng nên lưu ý điểm này.

Tóm tắc sơ lượt lần cuối của các sao này có ý nghĩa như sau:

Huyền Không Phi Tinh xem xét 9 ngôi sao, tương ứng với các số lần lượt từ 1 đến 9. Mỗi sao có màu sắc và ý nghĩa riêng và nó sẽ có tác dụng lên ngôi gia của bạn tùy theo ngôi Sao xấu tốt.

Số 1 ứng với sao Nhất Bạch, màu trắng, hành thủy, được coi là mang lại chiến thắng, thành công trong sự nghiệp. Số 2 ứng với sao Nhị Hắc màu đen, hành thổ, gây bệnh tật. Số 3 ứng với sao Tam Bích, màu xanh da trời, hành mộc, gây cãi cọ. Số 4 ứng với sao Tứ Lục, màu xanh lá cây, hành mộc, mang đến vận may về học vấn, tình yêu. Số 5 ứng với sao Ngũ Hoàng, màu vàng, hành thổ, gây tai họa. Số 6 ứng với sao Lục Bạch, màu trắng, hành kim, mang lại thiên vận (vận may của trời). Số 7 ứng với sao Thất Xích, màu đỏ, hành kim, gây bạo lực, mất mát, trộm cướp. Số 8 ứng với sao Bát Bạch, màu trắng, hành thổ, mang lại may mắn, tài lộc. Số 9 ứng với sao Cửu Tử, màu tím, mệnh hỏa, mang lại thịnh vượng trong tương lai, khuyếch trương ảnh hưởng của các sao khác.

Ứng dụng thực tế kết hợp: * Toạ sơn, hướng Thuỷ, địa vận, phi tinh lưu niên, mệnh khuyết: Tra cứu Bát tự (8 ô năm tháng ngày giờ sinh) các thành viên trong gia đình, nắm bắt được mỗi thành viên cần và kỵ ngũ hành nào, kết hợp Phi tinh lưu niên theo phương vị đại diện cho thành viên đó. Ví dụ người Cha sinh vào mùa Hè, đa phần cần Thủy và kỵ Hoả, người Cha thuộc phương vị Tây Bắc. Năm 2018 sao Nhất Bạch (1) bay vào phương vị Tây Bắc, năm 2018 phương vị này cần Kim, có thể bày trí vật bằng đồng hoặc vật thuộc Thủy để kích vận cho Nam gia chủ.

Đồ hình Phi tinh 2019 theo Năm và từng tháng

CHỦ TINH KHÍ KHẨU GẶP LƯU NIÊN, LƯU NGUYỆT NHẤT BẠCH 1-6Chủ: Nhất bạch

Khách lưu niên: Lục bạch. Danh lợi, hoạn lộ, học hành tốt

1-7

Khách lưu niên: Thất xích. Tình yêu, tiền tài, đào hoa

1- 2 5 8

Khách lưu niên: Nhị hắc, Ngũ hoàng, Bát bạch.

Bất lợi, tổn hại sức khoẻ

Tài vận không đẹp.

Khó phát triển.

Bất lợi

Bất lợi

Danh tiếng, tài lộc, được bạn bè giúp đỡ.

Thoái tài, kinh tế khó khăn.

Thoái tài, kinh tế khó khăn.

5-7

Khách lưu niên: Lục bạch, Thất xích.

Bất lợi

Bất lợi

Công việc thuận lợi nhưng gây thị phi.

Bất lợi

Tiến khí đại cát

Bất lợi

Tiến khí đại cát

Không có lợi

Cát lợi, may mắn, hỷ sự

Thuận lợi.

Bất lợi

Hao tiết, khắc xuất8-1 Khách lưu niên: Nhất bạch.

Bất lợi, hao tổn

Bất lợi

Uy tín, danh tiếng.

Uy tín, danh tiếng vang xa

Bất lợi, thị phi. Gặp Nhị hắc gây hại nhân đinh.

Linh vật hoá giải Phong thuỷ

:: Khai quang – sái tịnh là gì? Khai quang điểm nhãn (Gọi tắt là khai quang) là thủ tục để linh vật nhận chủ nhân. Quá trình khai quang sẽ bao gồm lễ cúng, khấn và đọc thông tin chủ nhân. Có thể có thêm thủ tục “mở mắt” cho linh vật, gọi là “điểm nhãn”. Sau khi khai quang, linh vật sẽ nhận và phù trợ cho chủ. Sái tịnh là nghi thức làm cho vật hoàn toàn trong sạch, xoá mọi khí đã ám vào chủ củ.

:: Khai quang – sái tịnh ở đâu? Việc sái tịnh – khai quang cần có đầy đủ dụng cụ, và phải biết khấn. Do đó nên được thực hiện bởi thầy phong thủy, hoặc các sư thầy tại chùa, là những người am hiểu và có chuyên môn. Gia chủ nên mang đến chùa gần nơi ở.

* Bạch Hổ sát là hướng Phía “bên phải” ngôi nhà của mình (kể từ trong nhà nhìn ra cửa chính). Bị xung sát, có nghĩa là mảnh đất kề bên có biến động gây ảnh hưởng đến nhà mình. Nhà bên sửa chữa xây dựng lớn, miếng đất kề bên bị đào xới, hoặc một tổn thương nào đó mà gây ảnh hưởng trực tiếp đến ngôi nhà của mình như: – Tình trạng kinh doanh có sự cố bất thường ảnh hưởng đến doanh thu – Công việc tự nhiên có biến động gây ảnh hưởng không tốt. – Có những tai nạn bất ngờ không rõ nguyên nhân – Những người trong gia đình trong khoản thời gian này có bệnh khó hiểu trị mãi mà không thấy thuyên giảm. – Một số ảnh hưởng vô cớ gây tổn thươg đến người trong gia đình.

* Tam Sát là gì?

Tam Sát là phương vị lưu niên xung Tam hợp vượng vị, Nếu lưu niên phạm Tam Sát thì tất sẽ ảnh hưởng đến tài vận trong năm, cũng dễ vì thế mà gặp họa phá tài, lộ tài, người nhà ốm đau bệnh tật. Vậy Tam Sát là gì? Dần Ngọ Tuất hợp Hỏa cục, Hỏa vượng ở phương Chính Nam, xung với phương Chính Bắc (Hợi Tý Sửu), ấy là phạm Tam Sát (Hợi phạm Kiếp Sát, Tý phạm Tai Sát, Sửu phạm Tuế Sát). Hợi Mão Mùi hợp Mộc cục, Mộc vượng ở phương Chính Đông, xung sát với phương Chính Tây (Thân Dậu Tuất), ấy là phạm Tam Sát (Thân phạm Kiếp Sát, Dậu phạm Tai Sát, Tuất phạm Tuế Sát). Tỵ Dậu Sửu hợp Kim cục, Kim vượng ở phương Chính Tây, xung sát với phương Chính Đông (Dần Mão Thìn), ấy là phạm Tam Sát (Dần phạm Kiếp Sát, Mão phạm Tai Sát, Thìn phạm Tuế Sát). Thân Tý Thìn hợp Thủy cục, Thủy vượng ở phương Chính Bắc, xung sát với phương Chính Nam (Tỵ Ngọ Mùi), ấy là phạm Tam Sát (Tị phạm Kiếp Sát, Ngọ phạm Tai Sát, Mùi phạm Tuế Sát).

Có thể tóm gọn lại trong câu khẩu quyết như sau: “Dần Ngọ Tuất sát Bắc, Thân Tý Thìn sát Nam, Hợi Mão Mùi sát Tây, Tỵ Dậu Sửu sát Đông”.

Năm Dần, Ngọ, Tuất thì phương Chính Bắc là Niên Tam Sát. Năm Thân, Tý, Thìn thì phương Chính Nam là Niên Tam Sát. Năm Hợi, Mão, Mùi thì phương Chính Tây là Niên Tam Sát. Năm Tỵ, Dậu, Sửu thì phương Chính Đông là Niên Tam Sát.

* Ngũ Hoàng sát là gì?

Ngũ Hoàng, trong Cửu tinh còn được gọi là Ngũ Hoàng Liêm Trinh, hay hỏa tinh, sát tinh, ngũ hành thuộc Thổ, màu sắc là màu vàng. Đóng tại phương vị trung cung của Hậu thiên bát quái. Tính hung của sao này mang đến lớn hơn nhiều lần so với Tam sát và Thái tuế.

Những phương vị mà sao Ngũ Hoàng bay đến mà có hiện tượng như động thổ, phá tường khoan đục, động… sẽ khiến vận trạch chuyển từ thịnh sang suy, có ảnh hưởng rất lớn đến ngững người sống tại ngôi nhà đó cả về sức khỏe lẫn tiền bạc.

Để biết được Ngũ Hoàng sát vị trí nào trong nhà, gia chủ cần nhờ Thầy Phong thuỷ đo toạ độ và lập vận bàn. Ngoài ra Ngũ Hoàng sát mỗi năm đều di chuyển khác nhau, ví dụ năm 2019 nhập Tây Nam, nhà cửa hướng Tây Nam phạm Ngũ hoàng, năm 2020 nhập Đông, năm 2021 nhập Đông Nam. Nơi có Ngũ Hoàng sát bay vào, nếu Loan đầu (hình thể) xuất hiện hiện tượng động thổ, đặt các vật thuộc Hoả, màu đỏ… vào sẽ khiến Ngũ Hoàng sát phát huy tính hung.

Đài phun nước

Đài phun nước có 2 loại: Một là căn cứ vào kết cấu địa hình hiện trường, chế tác mô phỏng theo cảnh nước thiên nhiên, như: Đài phun nước bức tường, Đài phun nước dạng sương, Đài phun nước chảy dạng khe… Hai là dựa vào thiết bị đài phun nước để tạo cảnh, loại này phổ biến, như Đài phun nước âm nhạc, Đài phun nước có điều khiển, Đài phun nước bốc hơi, Đài phun nước ánh sáng, Đài phun nước giải trí.

[ Công dụng Đài phun nước] Đài phun nước có thể làm ẩm không khí xung quanh, giảm bụi, hạ thấp nhiệt độ. Đồng thời có tác dụng hỗ trợ sự lưu thông vận khí của ngôi nhà, tránh tài khí bị đình trệ, hơn nữa có thể làm giảm một cách có hiệu quả đối với những ảnh hưởng không tốt của khí.

Đài phun nước hoạt động có thể hoá giải được một bộ phận sát khí, đồng thời mang đến tài khí. Đặc biệt những ngôi nhà nằm ở hướng Đông Tây, phía trước có Đài phun nước được xem là cát, vì Thuỷ có thể sinh Mộc ở hướng Đông. Nhưng nếu ngôi nhà nằm ở hướng Nam Bắc thì không nên, vì Nam thuộc Hoả, bị Thuỷ khắc không lợi cho tụ tài.

Kỳ lân Kỳ lân là một trong tứ linh theo tín ngưỡng Á Đông. Giống đực gọi là kỳ, giống cái gọi là lân, là vật để cưỡi của thần linh. Đây là động vật mang tính hư ảo được người xưa tạo ra. Tập hợp đầu của Rồng, sừng của Hươu, mắt Sư tử, lưng Hổ, vảy Rắn, móng Ngựa, đuôi Lợn tạo thành một con vật, tạo hình này được tạo nên bởi các ưu điểm của các loài vật được mọi người yêu quí.

[ Công dụng Kỳ lân] Trong Phong thuỷ học, Kỳ lân có thể hoá giải được hung tai, tiêu trừ tà ma, chấn trạch tránh sát, thúc đẩy tài vượng, giúp thăng quan tiến chức. Kỳ lân có thể hoá giải được Ngũ hoàng sát, Tam sát (hoá Tam sát phải dùng 3 con Kỳ lân, đặt vào vị trí Tam sát, hơn nữa đầu phải hướng vào Tam sát), Thiên trảm sát, Liễm đao sát, Bạch hổ sát, Nhị hắc bệnh phù tinh.

Nó cũng thích hợp cho những người có tính chất công việc ổn định như nhân viên công chức, viện kiểm sát. Kỳ lân còn có tác dụng thúc đẩy đời sau thịnh vượng, nếu muốn sinh con trainco1 thể dùng Kỳ lân Tống tử là điềm Kỳ lân ban quý tử, công dụng lớn của biểu tượng này là giúp những người hiếm muộn cầu con.

Ngoài ra, Kỳ lân có thể chuyên dùng để hoá giải Bạch hổ sát. Đặt một đôi Kỳ lân vào phưng bị Bạch hổ của ngôi nhà, giúp mọi người trong nhà bình an. Đặc biệt ở hướng Bạch hổ có ống khói hoặc góc nhọn xung xạ càng nên đặt Kỳ lân được khai quang để hoá giải hung sát. Kỳ lân được làm bằng vàng là tốt nhất, có thể dùng Kỳ lân bằng đồng, vì các vật bằng đồng có lợi cho việc hoá Ngũ hoàng sát.

Hồ lô

Hồ lô được xem là linh vật mang lại cho con người phúc lộc, cát tường, cũng là vật phẩm tốt để bảo vệ ngôi nhà.

[ Công dụng Hồ lô]

Hồ lô là công cụ rất hữu hiệu để hỗ trợ bố cục phong thuỷ, tăng cường khí vận. Hồ lô thường dùng có 2 loại, Hồ lô đồng và Hồ lô thiên nhiên. Nếu trên Hồ lô có đồ Bát quái thì có thể trở thành “Hồ lô hoá sát Bát quái” có công hiệu tốt hơn.

Treo trái Hồ lô ở cuối chân giường hoặc đặt bên giường có thể hấp thu được khí trường không tốt, hút đi sự đen đủi, bệnh tật trên cơ thể con người, nâng cao thế vận.

Treo Hồ lô bên ngoài cửa chính có tác dụng bảo vệ cho mọi người trong nhà được bình an. Hồ lô còn có thể tăng cường thêm tình cảm giữa vợ chồng. Nếu tình cảm kém hoà hợp, có thể đặt trái Hồ lô ở đầu giường để cải thiện.

Tỳ hưu (đặt đầu hướng ra ngoài cửa)

Tỳ hưu là loại thần thú trong truyền thuyết thần thoại cổ xưa, 1 sừng được gọi là Thiên lộc, 2 sừng được gọi là Tịch tà. Theo kinh nghiệm từ xưa, Tỳ hưu là loài mãnh thú nhưng lại là mãnh thú mang ý nghĩa tốt lành. Tỳ hưu có đầu rồng, thân ngựa, chân lân, hình dáng giống sư tử, có thể bay được, uy võ, có miệng mà không có hậu môn, có thể nuốt vạn vật, châu báu, có thể chiêu tài tụ bảo, chỉ có vào mà không có ra, thần thông đặt biệt, ngoài ra còn ăn các loài mãnh thú tà linh, bảo vệ chủ một cách mạnh mẽ, tác dụng xua đuổi tà khí, đem lại may mắn hạnh phúc cho chủ nhân.

[ Công dụng Tỳ hưu]

Tỳ hưu có tác dụng trấn trạch tịch tà, chiêu gọi vượng tài, thích hợp nghành nghề buôn bán, kinh doanh. Khi đặt Tỳ hưu phải đặt đầu hướng ra ngoài cửa, cửa sổ để chiêu tài khí, có thể xem ngày giờ tốt để đặt.

Long quy (đặt đầu hướng vào nhà) Long quy là con vật mang ý nghĩa chiêu tài chiêu lộc, trên lưng mang Hà đồ lạc thư cho thấy số mệnh của đất trời, có thể dùng hoá sát. Long quy là hoá thân của Long thần và Linh quy. Long quy là tượng trưng cho nhân thọ.

[ Công dụng Long quy]

Đặt Long quy trong nhà có tác dụng an gia, trấn trạch, tránh tà, giúp gia trạch được bình an.

Cách dùng khá phức tạp, phải đặt thích hợp vào vị trí Tam sát hoặc nơi nào có Thuỷ khí nặng mới có công hiệu. Vị trí Phong thuỷ có Thuỷ khí nặng nếu đặt Long quy vào có thể hoá giải được những lời thị phi, đồng thời tăng cường được mối nhân duyên. Phần lưng của một số bộ phận pháp khí Long quy là lưu động, có thể bật lên, cho lá trà và hạt gạo vào, có thể tăng cường hiệu ứng của nó. Đầu Long quy hướng vào nhà có ý nghĩa dâng phúc lộc, đuôi hướng ra ngoài có thể chắn được khí xung sát.

Bình phong Bình phong không chỉ có chức năng che chắn phân chia không gian tạm thời, mà còn là lá chắn ngăn chặn, hoá giải khí xấu, đem đến sự bình an cho gia chủ. Bình phong thời nay có các loại 4 cánh, 6 cánh, 8 cánh, dạng treo, dạng bàn…

[ Công dụng Bình phong]

Bình phong thường đặt vị trí dễ nhìn, có tác dụng phân cách, chắn gió, chắn khí mạnh, che đậy riêng tư, làm đẹp, tạo ra hiệu quả “cách mà không ly”.

Chuông gióChuông gió phát ra âm thanh khi gió thổi, đây là vật trang trí, cũng là vật có thể hoá sát.

[ Công dụng Chuông gió]

Trong Phong thuỷ có thể lợi dụng âm thanh của Chuông gió để thay đổi từ trường không gian môi trường, giúp chiêu bảo tụ tài. Tuy nhiên phải nghiên cứu kỹ phương vị đặt. Tránh đặt vị trí động của sao Tam bích và Thất xích, năm 2019 Thất xích nhập Đông Nam, 2020 nhập Trung cung.

Thạch cảm đương Thạch cảm đương còn được gọi là Thái sơn Thạch cảm đương, là vật dùng để trấn áp hung địa. Nếu ngôi nhà gặp phải các nơi không cát tường như: Lộ xung (đường xung vào nhà), tiễn đao lộ (đường hình chiếc kéo), kiều đầu (đầu cầu), duyên hải, sơn khu (khu vực núi), hung trạch, phản cung (đường xe chạy hình chữ U), góc nhọn xung xạ, cột điện, tháp điện cao áp, khe rãnh, đồng hoang… để có thể dùng Thái sơn Thạch cảm đương để chắn tà, chế sát, trấn trạch. Ngoài ra, còn có thể tiêu trừ mọi sự phiền nhiễu, trừ khử sự tạp loạn trong suy nghĩ, điều tiết năng lượng khí trường trong nhà, giúp gia chủ tập trung ý chí, phấn đấu, có tác dụng quan trọng cho mọi sự thành công.

[ Công dụng Thạch cảm đương]

Có thể căn cứ vào nhu cầu khác nhau để đặt Thái sơn Thạch cảm đương, vào vị trí thích hợp. Sắp đặt phân thành 3 loại sau:

Nhà khuyết góc: có thể đặt Thạch cảm đương vào, đồng thời hướng mặt có chữ vào hướng góc khuyết đó

Nếu dùng để trấn trạch có thể đặt phòng khách, phòng đọc sách hoặc phòng ngủ, thông thường ưu tiên phòng khách.

Nếu dùng Thạch cảm đương chắn sát có thể đặt vào phương vị có sát khí.

Gương bát quái Gương bát quái là một loại Pháp khí trong phong thuỷ, có thể hội tụ năng lượng của vũ trụ nhằm trấn áp tà khí, hoá giải sát khí, xoay chuyển khí trường, tiêu trừ địa thế bất lợi. Gương bát quái phân thành 3 loại: Gương bằng, Gương lồi, Gương lõm. Gương bát quái chất liệu bằng gỗ đào là tốt nhất, người xưa cho rằng Gỗ đào là tinh hoa của 5 loại gỗ, giá khá đắt. Gia chủ có thể dùng gương bằng đồng.

[ Công dụng Gương bát quái]

Hoá giải sát khí như: đường xung thẳng, cột điện, góc nhọn xung xạ, ống khói

Treo Gương bát quái phẳng (phản chiếu) bên ngoài nhà có thể có tác dụng phản xạ, treo trong nhà cũng giống như gương lõm, có thể tác dụng hút tài khí. Trong nhà không nên treo gương phẳng đối diện giường, bàn đọc sách, vì khi con người yên tĩnh hoặc nghỉ ngơi, gương có thể thu nhân khí, ảnh hưởng đến sức khoẻ.

Gương lồi (tán ra) bát quái giống như mai rùa, có cung tròn lồi lên và mặt gương phản xạ sáng bóng, khi chiếu vào các vật thể có sát có thể phân giải được sát khí, phản xạ ra bốn phía. Ví dụ bên ngoài cửa, cửa số có sát khí như đường xung thẳng, cột điện, góc nhọn xung xạ, ống khói, gia chủ có thể treo gường lồi vào vị trí tương ứng.

Gương lõm (hút vào) bát quái có tác dụng hội tụ năng lượng, hấp thu tài vận cát vận, quý khí vào nhà. Nơi nào xuất hiện tình trạng khí ào ạt chảy ra ngoài hoặc cát vận cát lợi rời xa ngôi nhà có thể lợi dụng gương lõm để thu lại. Ví dụ cửa chính đối diện với cầu thang đi xuống, có thể treo gương lõm trên cửa chính để thu lại các địa khí vừa thoát đi về.

Hổ phù Hổ phù là vua của hoá sát, còn được gọi là “Sư tử trừng mắt ngậm kiếm”. Tướng mạo hung hãn, dũng mãnh, hai sừng hướng về phía sau dán chặt vào lưng. Vì luôn ở trạng thái miệng ngậm bảo kiếm nên thường được điêu khắc thêm bao bọc lấy đuôi kiếm để tăng cường uy lực. Dân gian nói: “Ân đức của một bữa cơm nhất định phải đền đáp. Ân oán của một cái trừng mắt nhất định phải báo thù”, vì thế, cái trừng mắt đã trở thành hoá thân tương khắc với mọi sự tà ác.

[ Công dụng Hổ phù]

Ngôi nhà xuất hiện rất nhiều góc Nhọn, dao, cung tên, các vật thể kiến trúc bên ngoài: cột điện, tháp nước, tháp sắt, máy biến áp, đường xá sát nhà, cầu vượt… đều có thể hình thành nên sát khí cho ngôi nhà. Các loại sát khí này nếu không kịp thời hoá giải, phạm nhẹ thì công việc đình trệ, không thuận lợi, kiện tụng, thị phi. Nặng thì thương tật, phá tài, tổn hại nhân đinh.

Hổ phù có thể trấn trạch tránh sát, thúc đẩy tài vượng, thăng tiến trong công việc, hoá giải được sự xâm nhập của tà khí, như hoá giải Ngũ hoàng, Nhị hắc.

Có thể đặt Hổ phù trong phòng khách đối diện với hướng sát hoặc đối diện với cửa chính, nhưng không được để trong phòng ngủ.

* Hướng kiếm mà sư tử ngậm cũng có ý nghĩa khác nhau. Đứng đối diện mặt sư tử, nếu chuôi kiếm quay sang bên trái thì có tác dụng cầu phúc, chuôi kiếm quay sang bên phải có tác dụng trừ tà. Sư tử ngậm kiếm là loài thú phong thủy mang điềm lành, không những có thể hóa sát mà còn có thể giúp đường sự nghiệp, tài vận tăng tiến, hoặc bảo vệ ngôi nhà bình an cát tường.

* Hình sư tử ngậm kiếm treo trước cửa chính hoặc ngoài ban công, dùng để trấn trạch, hóa giải sát khí từ ngoài vào, tăng khí thế của gia đình. Trước mặt tiền nhà ở hoặc cửa hàng nếu có con đường hoặc ngõ đâm thẳng vào cửa, phạm phải sát khí, dễ khiến thành viên trong nhà xảy ra huyết quang tai ương, tài vận rò rỉ, có thể treo hình sư tử ngậm kiếm trước cửa hoặc cửa sổ, đối diện thẳng với con đường hoặc ngõ là có thể hóa giải. Ngoài ra, vật phẩm phong thủy này còn có thể hóa giải nhiều loại sát khí khác nữa.

Động thạch anh Tím Động thạch anh Tím được xem là đá của sự thuần khiết, có khả năng bảo vệ chủ nhân chống nhiễm bệnh. Động thạch anh Tím được coi là kết tinh của đất trời, tinh hoa của ngày tháng. Nó hình thành từ hàng tỷ năm trước, là acid silic trong vỏ địa cầu chảy vào trong động không, dưới một áp lực và nhiệt độ nhất định áp vào tường núi kết tinh thành.

Ngoài ra, thạch anh vàng cũng thuộc hoả, Thạch anh Trắng thuộc Kim Thuỷ, Thạch anh đen thuộc Thuỷ. Thạch anh có nhiều màu, hình dáng có 2 loại, động thạch anh và quả cầu thạch anh.

[ Công dụng Động thạch anh Tím]

Đặt Động tạch anh Tím trong nhà có tác dụng hoá xung giải sát, còn có tác dụng tích tài tích lộc. Khí trường của nó chảy liên tục không ngừng, cung cấp năng lượng cho con người, đồng thời có thể điều tiết được nhiệt độ trong phòng, giữ cho nhà luôn khô ráo, trừ mùi hôi thối. Đặt Động thạch anh Tím ngay cửa có thể tránh được sự hãm hại của tiểu nhân. Được dùng rộng rãi trong phong thuỷ dương trạch, là loại đá phong thuỷ tốt nhất.

Động thạch anh Tím có thể ngưng tụ được khí của ngôi nhà, nếu đặt sau bàn của giám đốc có thể giúp hoá giải xung đột, công việc thuận lợi, đặt đầu giường có thể trị được chứng syt nhược thần kinh, mất ngủ. Động thạch anh Tím giúp lưu thông không khí trong nhà, đem lại nhiều may mắn cát lợi.

Tuy nhiên gia chủ cần biết mệnh khuyết, thạch anh Tím thuộc Hoả, dành cho mệnh khuyết hoả, phương vị đặt cũng không nên kỵ hoả, tránh bày trí phương vị có sao Ngũ hoàng, Nhị hắc bay vào.

Cầu thạch anh Cầu thạch anh là vật phẩm gia công từ đá thạch anh, tiêu hao gấp 4 đến 6 lần nguyên liệu so với thể trọng của nó. Đa phần Cầu thạch anh thiên nhiên đều có sợi bông thiên nhiên, vết nứt (đặt biệt là thạch anh tím), các vết nứt cứng do con người tạo ra trong quá trình mài.

Thạch anh vàng cũng thuộc hoả, Thạch anh Trắng thuộc Kim Thuỷ, Thạch anh đen thuộc Thuỷ. Thạch anh có nhiều màu, hình dáng có 2 loại, động thạch anh và quả cầu thạch anh

Từ trường của nó hầu như không bị ảnh hưởng bởi các năng lượng khác, luôn giữ được tính ổn định. Trong thế giới ma thuật, cầu thạch anh trắng là vật thần bí có thể quan sát được quá khứ và tương lai, trong Phật giáo được phong là một trong thất bảo.

[ Công dụng Cầu thạch anh]

Cầu thạch anh trắng có công năng mạnh đối với việc tránh tà, chắn sát, trấn trạch, tiêu trừ năng lượng âm tính, cũng có thể giúp con người ổn định và thư giãn tinh thần. Đặt biệt là Thạch anh trắng đã được Phật pháp tu luyện qua, từ trường vốn ổn định của nó sau khi được tu luyện hun đúc càng ổn định tập trung hơn.

Phong thuỷ Khải Toàn

* Có duyên lĩnh hội Thiền định – Phong thuỷ – Tâm linh, dùng những kiến thức này giúp người trong tâm thế cẩn trọng, giúp ai và không nhận ai. Truyền tải thông điệp Thiền đến mọi người để có được sự an nhiên trong đời sống, sống tích cực, hướng thiện, giúp đỡ nhân sinh.

* Tôi không nhiều hứng thú khi dự đoán tương lai của ai đó, nhưng rất thích nói về “cải vận” luận về làm thế nào thay đổi cuộc sống tốt hơn. Các luận đoán trong kết quả gửi đến gia chủ chỉ nói hạn chế về tương lai, đa phần hướng dẫn cách cho tâm tính tích cực, chỉ ra Mệnh khuyết để cải vận.

Cập nhật thông tin chi tiết về Công Cụ Huyền Không Phi Tinh trên website Hartford-institute.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!