Xu Hướng 12/2022 # Nhân Tướng Học Và Quan Niệm Giáo Dục / 2023 # Top 13 View | Hartford-institute.edu.vn

Xu Hướng 12/2022 # Nhân Tướng Học Và Quan Niệm Giáo Dục / 2023 # Top 13 View

Bạn đang xem bài viết Nhân Tướng Học Và Quan Niệm Giáo Dục / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Hartford-institute.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Giáo dục không thể thực hiện sứ mệnh của mình, nếu như nó không được xây dựng trên sự hiểu biết sâu sắc về con người. Bởi thế, trong nội dung bài viết này, chúng tôi sử dụng Nhân Tướng như một công cụ tham chiếu, từ đó mong muốn đúc rút ra những suy ngẫm hữu ích cho chúng ta trong vấn đề giáo dục nói chung, và tự giáo dục nói riêng.

Bài viết này, phân tích đặc tính của diện tướng, tức tướng mặt một con người – một bộ phận trong phân tích hình tướng.

Phần 1: Tam Đình

Khuôn mặt một con người chia thành 3 phần chính:

– Phần từ chân tóc tới lông mày, được gọi là thượng đình.

– Phần từ lông mày tới chỏm mũi, được gọi là trung đình.

– Phần từ chỏm mũi đến hết cằm, được gọi là hạ đình.

Các tài liệu đều đề cập đến 3 vùng này, nhưng không đi sâu vào phân tích ý nghĩa về tâm tính của từng vùng đó.

Phần thượng đình, bao gồm chủ yếu vùng trán: Phản ánh khả năng tư duy đa chiều của một con người.

Phần trung đình, bao gồm chủ yếu mũi và hai gò má: Phản ánh khả năng hành động và sức cạnh tranh.

Phần hạ đình, bao gồm chủ yếu phần miệng, hai bầu má, cằm và hai quai hàm: Phản ánh các mối quan hệ xã hội và khả năng tương tác, giao tế.

Đi sâu vào phân tích từng bộ phận sẽ cần nhiều thời gian hơn, tuy nhiên chúng ta tạm dừng lại ở đây và nhấn mạnh hơn về ý nghĩa từng bộ phận.

Vùng thượng đình chủ về tư duy đa chiều. Hai chữ “đa chiều” rất quan trọng. Nhiều tài liệu nói rằng trán ngắn là người không thông minh, nói như vậy là vì hiểu sai ý nghĩa vùng thượng đình.

Tư duy đa chiều là khả năng xem xét một sự vật, sự việc, vấn đề dưới nhiều góc cạnh, nhiều yếu tố và bối cảnh khác nhau. Người có trán ngắn không hề phản ánh “kém thông minh” hiểu theo nghĩa rộng, mà phản ánh họ không sở hữu tư duy đa chiều. Mẫu hình này tư duy trực diện, điều đã tin thì tin chắc chắn, điều đã nghĩ thì làm tới cùng. Nếu đi với tướng quý thì quả cảm dũng mãnh, tín niệm kiên định. Đi với tướng xấu thì thô lỗ, ít suy xét hậu quả của hành vi. Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình sở hữu một vùng trán ngắn.

Vùng hạ đình lấy trung tâm là miệng, miệng chủ về ăn nói giao tiếp. Nên tướng hạ đình phản ánh các mối quan hệ và khả năng đối nhân xử thế.

Ba bộ phận này cấu thành ba yếu tố tạo nên thành công một con người: Tư duy đa chiều, khả năng hành động và các mối quan hệ.

Cố nhiên đó chỉ là phần hình tướng, tướng pháp còn chú trọng hơn tới thanh âm và thần thái. Tuy nhiên phạm vi đó quá rộng nên ta chưa bàn ở đây.

Khi xem xét sự liên kết ý nghĩa giữa các vùng, ta thấy rằng trán cao và rộng nhưng vùng mũi thấp ngắn, hai gò má không cao thì cũng chỉ là người giỏi suy xét nhưng thiếu sức hành động. Người có năng lực mạnh mẽ sở hữu trán cao rộng phẳng, mũi và hai gò má nổi bật. Chủ tịch Hồ Chí Minh sở hữu hình tướng này, cho thấy Bác là người có khả năng tư duy đa chiều sắc bén, khả năng hành động mạnh mẽ.

Cách thứ nhất: Từ trên xuống dưới.

Cách quan sát này phản ánh chu trình phát triển con người theo thứ tự: trước hết phát triển tư duy, khi tư duy đã hoàn thiện thì hành động, từ hành động đó kiến tạo các mối quan hệ.

Cách quan sát thứ hai: Từ dưới lên trên.

Cách quan sát này phản ánh cách thức phát triển con người theo trình tự: Trước hết kiến tạo môi trường và các mối quan hệ, sau đó khuyến khích hành động và cạnh tranh, từ hành động đó đúc kết những thành quả về tư duy.

Cách thứ nhất phản ánh nguyên lý: Từ nội hướng ra ngoại, tức phát triển bên trong trước khi phát triển bên ngoài. Cách thứ hai phản ánh nguyên lý ngược lại: Từ ngoại hướng vào nội, tức phát triển bối cảnh bên ngoài từ đó thu lại cho bản thân.

Về ý nghĩa khái quát, hai cách thức phát triển này tương ứng hai quan niệm giáo dục Đông Tây.

Người Phương Đông chú trọng phương pháp từ trong ra ngoài. Như Khổng Tử có lời viết “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Lối học của chúng ta cũng đi theo xu hướng: Giỏi lý thuyết trước, sau đó mới thực hành, thực hành tốt mới làm nghề, làm nghề mới có đồng nghiệp.

Phương pháp này dẫn tới việc, các mối quan hệ của đa số thường là “mối quan hệ thụ động”, tức là sinh ra do quá trình hành động, là hệ quả của việc làm.

Ngược lại với lối phát triển này, người Phương tây chú trọng kiến tạo môi trường, các mối quan hệ và giáo dục sự tương tác trước. Từ môi trường đó khuyến khích hành động, tạo lập sự cạnh tranh. Từ quá trình hành động và cạnh tranh, thu lại được những tri thức và óc suy xét đa chiều.

Tất nhiên, sự so sánh trên được xét trên bình diện rộng và có tính tuyệt đối hóa. Hai quy trình này thường có sự đan xen lẫn nhau, nhưng có sự phân chia nặng nhẹ, tính chú trọng khác nhau.

(Ảnh: Quan niệm giáo dục Đông Tây)

Suy xét kĩ hơn, lối phát triển bản thân từ trong ra ngoài, phù hợp với đặc thù cơ cấu xã hội ít biến động và có tính ổn định cao. Đời trước truyền cho đời sau tri thức, đời sau học hỏi nhuần nhuyễn rồi ứng dụng trong hành động, từ đó kiến tạo các mối quan hệ. Cách giáo dục này mang nặng tính kế thừa.

Lối phát triển bản thân từ ngoài vào trong, chú trọng tạo lập môi trường để con người tự hành động và cạnh tranh. Tri thức và óc suy xét là kết quả do sự vận động tự thân đó, mang tính cá nhân cao và ít nặng hơn yếu tố kế thừa.

Hai lối phát triển này, có ưu và nhược điểm riêng, tùy thời tùy hoàn cảnh và tùy cá nhân mà vận dụng phù hợp.

Phương Tây, cụ thể hơn là các nước Châu Âu, vùng lên từ đầu thế kỷ 16. Ngắn ngủi trong vòng 200 năm, họ thống trị toàn thế giới, thương gia có mặt ở khắp nơi, xã hội liên tục phát triển và cải tiến. Người phương Tây chú trọng thiết lập “môi trường” cho tất cả các hoạt động: Môi trường học tập đại chúng, môi trường phát triển bản thân, môi trường pháp luật, môi trường kinh doanh, môi trường văn hóa ứng xử, v.v.. và v.v… Người Phương Tây có vùng mũi và hai gò má nổi cao, họ phát triển tính cạnh tranh mạnh mẽ và coi đó là gốc rễ của sự phát triển.

Nhìn lại xã hội chúng ta ngày nay, trải qua gần một thế kỉ bị thực dân Pháp đô hộ, gần nửa thế kỉ binh đao chiến họa. Đất nước chúng ta như một đứa trẻ cực khổ và nhọc nhằn. Tuy hình thái học tập có vẻ đã khác đi, nhưng ý thức hệ giáo dục vẫn ăn sâu tư tưởng cũ. Trẻ học lý thuyết vô cùng nặng nề, gần 22 năm trời khi hết bậc đại học mới bắt đầu bước vào những hành động thực tế và cạnh trạnh với xã hội. Trẻ ít được dạy về cách kiến tạo chủ động trong các mối quan hệ. Môi trường tốt đối với một trẻ gần như được vô trùng, ngoan ngoãn, an toàn, sự cạnh tranh ở trong giới hạn cho phép. Trẻ chỉ kết giao trong những mối quan hệ thụ động như trường lớp. Lối phát triển từ trong ra ngoài vẫn chiếm ưu thế.

Rộng hơn, các nhà lãnh đạo vẫn như một người cha mẹ tận tình từng việc nhỏ, Thủ tướng chỉ đạo xử lý một vụ án như quán café Xin Chào, nhưng lại chưa thực sự tốt trong việc kiến tạo môi trường xã hội. Môi trường pháp luật thiếu minh bạch, môi trường cạnh tranh không công bằng, môi trường văn hóa ứng xử thấp, môi trường sinh thái càng ngày càng đi xuống v.v.. và v.v..

Nốt Ruồi Lệ Đường Và Quan Điểm Nhân Tướng Học / 2023

Theo quan điểm của nhân tướng học thì vận mệnh cuộc đời, hay tình duyên đều được tiết lộ qua xem bói nốt ruồi. Nốt ruồi lệ đường là một điềm báo cho những đau khổ vì tình, cuộc đời sẽ gặp nhiều bất hạnh, tình yêu không mấy thành công hoặc dễ nảy sinh tình cảm ngoài luồng rắc rối, có khi có kẻ thứ ba chen vào giữa hôn nhân.

Nốt ruồi lệ đường theo quan điểm nhân tướng học

Theo quan điểm nhân tướng học, người có nốt ruồi lệ đường đa phần gặp trở ngại trong đường tình duyên, ít được hưởng phúc vui vầy cùng con cháu, có khi phải thường xuyên lo lắng muộn phiền . Họ thường tự ti với mọi người nên cũng dễ nảy sinh bất đồng với nửa kia của mình, thậm chí có khi dẫn tới đôi người đôi ngả.

Nếu xuất hiện nốt ruồi ở phía dưới mắt, thế nhưng không nằm trong bọng mắt thì cuộc đời phải chịu nhiều vất vả gian nan.

Nếu xuất hiện nốt ruồi nằm ngay bọng mắt thì chủ nhân thường là người đa sầu đa cảm. Tuy là người rất cẩn thận và tỉ mỉ thế nhưng lại rất dễ bị tổn thương.

Theo thuyết về tướng khuôn mặt thì người có nốt ruồi dưới mắt trái trời định không có được hạnh phúc trong đời. Họ bị tình yêu giày vò, chịu nhiều đau khổ vì người mình yêu, “từ khi biết yêu người, em rửa mặt bằng nước mắt rơi”.

Đặc biệt, phụ nữ có nốt ruồi Lệ Đường nơi mắt trái thì cả cuộc đời sẽ bị tình yêu hại cho thê thảm. Dù thông minh tài giỏi hơn người, giành được vị trí cao trong xã hội nhưng cuộc sống riêng tư lại chẳng được trọn vẹn như ai.

Số mệnh người này đường công danh sự nghiệp rực rỡ, nhưng đường tình duyên lại hẩm hiu. Họ khắc chế chính người họ yêu hoặc người yêu họ. Những người đó sớm muộn gì cũng vì họ mà chết hoặc chịu cảnh ly biệt đôi phương.

Nhân tướng học cho rằng đàn ông có nốt ruồi ở vị trí Lệ Đường tức đã mang tướng khắc tử (khắc mệnh con cái) và khắc thê (khắc mệnh vợ).

Tuổi thơ người này không được may mắn, hiếm được hưởng tình cảm ấm áp của mẹ cha. Khi kết hôn vợ chồng đa phần chịu cảnh ly tán mỗi người một phương, chăn đơn gối chiếc. Khắc khẩu với con cái, dù yêu thương rất nhiều nhưng không được con hiểu lòng mình.

Nếu Lệ Đường người này còn lõm sâu, màu sắc thâm sạm thì tương lai con cái không mấy tốt đẹp. Đặc biệt, Lệ Đường có vết sẹo hay dị tật bẩm sinh là điềm cực xấu, người đàn ông này dễ chịu cảnh tuyệt tự tuyệt tôn. Dù sinh được con đàn cháu đống nhưng về già cũng có thể phải cô đơn lẻ bóng.

Theo người xưa kể lại, nốt ruồi lệ đường hay còn gọi là nốt ruồi đón lệ, có hình dạng của giọt nước mắt rơi và nhưng kết lại ngay ở vị trí lệ đường. Theo truyền thuyết người có nốt ruồi lệ đươờng kêíp trước khi ra đi được người mình yêu ôm trọn trong lòng mà đau đớn khóc thương, giót nước mắt rớt xuống trên khuôn mặt người đã chết tạo thành dấu vết đánh dấu cho cuộc tình dang dở.Đó là dấu hiệu để ba kiếp sau còn có dịp trùng phùng, chỉ cần nhìn nốt ruồi nơi ấy là lập tức nhận ra người mình yêu thương từ bao kiếp trước. Người sở hữu nốt ruồi lệ đường sẽ dùng cả cuộc đời để bù đắp lại những đau thương mà người yêu ở kiếp trước phải chịu đựng. Hai người từ đó gắn bó bên nhau, quấn quít không rời, tình cảm thắm thiết cho tới lúc cái chết chia lìa đôi lứa. Nốt ruồi Lệ Đường, dấu vết khắc ghi ba đời ba kiếp, dù đầu thai chuyển thế vẫn không thể xóa nhòa.

Cũng có lời xưa kể lại rằng, những cô gái có nốt ruồi đón lệ trông mong manh yếu đuối, đa sầu đa cảm là vì họ còn mãi nhớ về nhân duyên không thành kiếp trước. Người mà nàng đem lòng yêu kiếp trước dù khổ sở, đau lòng tới mức nào cũng vẫn một lòng một dạ yêu thương nàng, tới khi chết vẫn quyết không buông tay. Do đó mà cô gái ấy giữ một nốt ruồi nơi khóe mắt để nhắc nhở mình kiếp này tiếp tục đi tìm người ấy, nối lại mối nhân duyên dang dở trước đây. Vì chuyện bi ai kiếp trước mà buồn thương rơi lệ kiếp này, có lẽ chỉ những cô gái yêu chung thủy, sống kiên trinh mới có thể làm ra được.

13 Bộ Vị Quan Trọng Trong Nhân Tướng Học / 2023

13 BÔ VỊ QUAN TRỌNG Trong phép xem tướng khuôn mặt, người ta chia khuôn mặt thành rất nhiều khu vực nhỏ gọi là bộ vị. Thoạt đầu, theo truyền thuyết thì từ đời Đông-Chu (cách đây khoảng 2500 năm) khuôn mặt được chia thành 13 bộ vị (h.3).

– Khu vực Thượng Đình:Thiên Trung, Thiên Đình, Tứ không, Trung Chính.

– Khu vực Trung Đình: Ấn Đường, Sơn Căn, Niên Thượng, Thọ Thượng, Chuẩn Đầu.

– Khu vực Hạ Đình: Nhân Trung, Thủy Tinh (Miệng), Thừa Tương, Địa Các

Thiên Trung (coi phụ họa h.3) được coi là tốt đẹp nếu đầy đặn, sáng sủa. Trong trường hợp đó Thiên Trung là dấu hiệu cho biết thuở nhỏ vận tốt, cha mẹ song toàn, thân thể khỏe mạnh. Ngược lại Thiên Trung thấp, lõm, lệch lạc trông không có gì khả quan chủ về tuổi ấu thơ không được tốt đẹp, hoàn cảnh sinh sống lúc nhỏ khó khăn chật vật, không được song thân nuôi nấng đúng mức, thiếu tình thương. Nếu như Thiên Trung có Khí Sắc hắc ám, ấn tàng mường tượng như mạch máu ngầm, có gân xanh chạy dài tới Ấn Đường (ở giữa 2 đầu Lông Mày), thì đó là triệu chứng trong đời khó thoát tai ương đột ngột, sinh kế phần lớn khó thành.

Là phần giữa trán tiếp liền dưới Thiên Trung (thông thường Thiên Đình và Thiên Trung chiếm 1/2 bề cao của trán. Do đó, cách quan sát và ý nghĩa tương tự như Thiên Trung về mặt mạng vận cá nhân, điều hơi khác là Thiên Trung chủ về cha. Thiên Đình chủ về mẹ. Nếu Thiên Đình Khí Sắc hắc hám một cách trường cửu thêm vào đó là hình thể khuyết hãm sẽ chủ về cảnh cơ khổ thiếu niên phần lớn do mẹ gây ra hoăc không được quý nhân tương trợ, do đàn bà cản trở.

Đầy đặn, Sắc hồng nhạt hoặc vàng, trông sáng sủa, chủ về thành đạt sáng sủa, vừa thông minh tài trí, vừa mạnh khỏe, ít tật bệnh hiểm nghèo. Nếu thấp, khuyết: chủ về ngu độn, vô tài cán. Nếu chổ này bị vết hằn, sẹo tự nhiên hay nốt ruồi thì dể đưa đến bị người ghét bỏ, có tính nóng nảy, ngông cuồng

Đó là khoảng giữa hai đầu Lông Mày là nơi trung gian giữa trán và gốc Mũi. Đối với tướng học Á- Đông cổ điển, bộ vị này rất quan trọng về phương diện mạng vận. Nguyên tắc quan sát từ Ấn Đường cũng tương tự như bốn bộ vị vừa kể trên, chủ yếu là lấy sự rộng rãi, nẩy nở là tốt về hình thức, tươi tốt, hồng nhuận là tốt về thực chất. Tốt cả chất lẫn hình chủ về mưu sự dễ thành. Hẹp hoặc khuyết hãm là xấu. Đặc biệt tối kỵ là hai đầu Lông Mày không được giao tiếp nhau ở ngay trên Ấn Đường tạo thành một vệt đen gần như duy nhất chạy dài từ phía bắt phải sang Mắt trái. Kẻ có tướng Ấn Đường như thế không mong gì có dịp giàu sang, hèn hạ suốt đời nhọc nhằn. Ấn Đường có nốt ruồi ở 2 bên phải và trái chủ về tù tội.

Một đặc điểm thường thấy ở những người từ tuổi Thanh niên trở đi là Ấn Đường có vết hằng chạy từ 2 bên đầu Lông Mày lên phía trán. Sự kiện cũng được sách tướng nghiên cứu tường tận và đưa đến vài nhận xét sau đây:

a. Ngay chính giữa Ấn Đường có một vết sâu và thẳng thì gọi là “luyến trâm văn”, về mạng vận có ý nghĩa là vợ chồng xung khắc. Về mặt cá tính, đó là kẻ có ý trí mạnh, làm việc có tinh thần trách nhiệmÂÂÂ

b. Ấn Đường có 3 hằn song son g chủ về phá tán gia sản, khắc vợ, sống xa quê nhà mới mong tạm đủ ăn mặc.

c. Ấn Đường có 2 đường giao nhau như hình chữ bát (/) ÂÂ chủ về sự nghiệp ba đào. Nếu các bộ vị khác đều tốt đẹp thì phải đợi ngoài 40 tuổi mới mong thõa nguyện bình sinh. Về mặt cá tính, đó là tướng người ưa tư lự, tập trung tư tưởng dễ dàng và có ý trí mạnh.

d. Ấn Đường có loạn văn là điềm bất thường nặng nề nhất ÂÂ . Đó là dấu cha mẹ sớm khuất bóng, buôn tẩu tứ phương. Nếu các vết hằng loang lổ đó sâu và rõ thì lại càng xấu, chủ về tính nết buông thả, không thể kiềm chế, đến khoảng trên dưới 30 tuổi khó tránh khỏi yếu tử (nếu các bộ vị khá tốt, mục quang có thần thì chỉ bị đau ốm hay tai ương qua loa).

Đó là khoảng sống Mũi nằm giữa 2 Mắt. Trong quan niệm “Thiên nhân tương trữ” của Á đông, (xem h.3). Sơn Căn được coi như nơi giao tiếp giữa trời và người, giữa Âm và dương, cho nên Sơn Căn cần phải cao, thẳng, ngay ngắn thì sự giao tiếp đó mới thành tựu mỹ mãn, đưa đến hậu quả tốt. Nếu lệch, hãm, gẫy… thì không thể khiến con người hấp thụ được Khí của trời và trăng sao. Hơn nữa Mũi là dấu hiệu quan trọng nhất của sự giàu sang, nếu Sơn Căn lệch, nhọn hoặc nhỏ thì gốc Mũi vốn đã hư sẽ khiến cả phần còn lại của Mũi bị tai hại. Nếu Sơn Căn tốt thì gần như một định lệ: Mũi cũng tốt theo và dưa đến tài vận hanh thông.

Điều cần biết ở đây là nếu Sơn Căn có màu xám như tàn tro thì đó là dấu hiệu báo trước của tật bệnh. Nếu Khí Sắc đó lan cả xuống sống Mũi và xuống sát phần tiếp giáp với 2 đầu Mắt thì bệnh càng nặng và có thể bị chết vì bệnh.

Nốt ruồi ở ngay Sơn Căn báo hiệu cuộc đời bôn tẩu tha hương. Ngoài ra đó cũng là dấu hiệu tai họa tù ngục, nếu mọc chính giữa khu vực của Sơn Căn, mọc ở hai bên phải và trái cho biết được kẻ đó trong mình có ác tật.

Đó là phần thân Mũi ở ngay dưới Sơn Căn và chiếm khoảng 1/4 chiều dài của Mũi đo từ khoảng giữa 2 Mắt tới chõm Mũi. Các bộ vị như Sơn Căn, Niên Thượng, Thọ Thượng sẽ được mô tả rõ ràng ở phần nói về Mũi nên ở đây chỉ chú trọng tới phần ý nghĩa căn cứ vào Khí Sắc và nốt ruồi của Niên Thượng mà thôi.

Niên Thượng có Sắc ám đen như sương mù, chủ về người thân có bệnh.

Niên Thượng có nốt ruồi chủ về vận kiếp có số đào hoa nghiã là hoặc do đam mê Sắc dục nữ giới mà thành tai tiếng tù tội, hoặc giao du xác thịt với đàn bà mà mắc bệnh.

Phần sống Mũi tận cùng ở tiếp dưới ngay Niên Thượng. Nếu phần Thọ Thượng có xương hoặc sụn nổi cao là dấu hiệu trong đời thế nào cũng có phen thất bại nặng nề. Về nốt ruồi và Khí Sắc, cách luận giải tương tự như phần nói về Niên Thượng, ý nghĩa cũng vậy. Tuy nhiên, nếu hai bên (phải và trái) của Thọ Thượng có Sắc hồng nhạt hoặc vàng và tất cả đều tươi mịn, dễ coi thì đó là triệu chứng đủ ăn đủ mặc (với điều kiện là Mũi tốt).

Đó là phần chõm Mũi, hình dạng tròn như viên đạn của con nít thường chơi. Chuần Đầu cần phải lớn, tròn trịa và có thịt mới tốt, tối kỵ là trơ xương. Tuy nhiên nếu chỉ tốt về hình dạng mà Sắc da ở Chuần Đầu khô mốc, ám đen cũng không thể coi là tốt vì đó là dấu hiệu bệnh hoạn hoặc hao phá về tiền bạc nặng nhẹ tùy từng trường hợp.

Người ta thường nói Mũi là nơi quan sát sự giàu nghèo, nhưng thực ra sự giàu ngèo chỉ căn cứ ở phần Thọ Thượng xuống đến Chuần Đầu (nhất là Chuần Đầu mà thôi).

Ngoài ra về mặt xem tướng tài vận, nếu Chuần Đầu nhiều thịt, mập mạp nhưng lổ Mũi quá rộng, hếch lên trời, nhiều lông, hai cánh Mũi qua mỏng và ở cao hơn vị trí của Chuần Đầu thì cũng là tướng hao tài hoặc hữu danh vô thực về tiền bạc.

Đó là cái rãnh sâu nằm ngay chạy từ dạ Chuần Đầu xuống tiếp giáp với Môi trên. Ở phần nói về Môi, Miệng và khu vực Hạ Đình sẽ nói tường tận về các dạng thức và ý nghĩa. Ở đây chỉ xin nói sơ qua là điều kiện tất yếu để xem là Nhân Trung tốt bao gồm:

– Sâu và rõ ràng, dài và rộng.

– Ngay ngắn chứ không lệch lạc.

– Không có nốt ruồi hay các vạch ngang tự nhiên làm đứt đoạn.

– Trên nhỏ dưới rộng.

Là một danh xưng chỉ về Môi Miệng (trong phần nói về Ngũ Quan, Miệng được coi là xuất nạp quan và là một trong 05 đại bộ phận trọng yếu của khuôn mặt, nên sẽ được mô tả đầy đủ trong một chương riêng. Bởi vậy độc giả nên tham chiếu chương nói về Miệng để biết rõ hơn).

Ở đây điều kiện tiên quyết của Thủy Tinh hợp cách là:

– Môi Miệng phải ngay ngắn.

– Hai Môi phải dày mỏng tương xứng

– Khóe Miệng phải hướng lên

– Bề dày phải vừa phải không nên quá dày quá mỏng

Là khu vực nằm giữa khoảng giữa Môi dưới và ở phía tận cùng của khuôn mặt và hơi lõm xuống (h.8), nhưng đây chỉ là hình dạng phổ thông. Ở một số người bộ phận này có thể nhô lên cao hoặc thẳng tấp. Trong những trường hợp như vậy hoặc quá hõm đều là hung tướng, chủ về hay bị Tai ương sông nước hay ẩm thực. Nếu khu vực này xám tro hoặc đen thì lại càng dễ quyết đoán.

Đó là phần tận cùng của khuôn mặt, ta thường gọi chung là Cằm.

Cằm chủ yếu phải nẩy nở, cân xứng, không lem, không nhọn, không đưa lên cao. Địa Các quá ngắn chủ yếu về yểu thọ. Quá nhọn và dài chủ về sống lâu nhưng về già lênh đênh cô độc. Địa Các có nốt ruồi hay lằn vạch tự nhiên do da mặt xếp lại thì không được thừa hưởng di sản của tiền nhân để lại, dù rằng có cân xứng và đầy đặn.

Quan Sát Tướng Mạo Có Những Quan Niệm Như Thế Nào? / 2023

1. Quan niệm 8 phép quan sát tướng của người xưa gồm: Uy, Hậu, Thanh, cổ, Cô, Bạc và Tục. Đó là với nam. – Và tướng nữ thì có: Kính, Trọng, Khinh, Hỷ (gian mê), Uy, Khủng (ác độc), ác (hủ lậu hình thù cổ quái).

2. Phép chia tướng 7 chữ gồm: Thanh (tướng quý), cổ (thân như cổ thụ lừng danh), Tú (đẹp đẽ), Quái (tướng kỳ quái khác người cũng là quý), Đoan (tướng đoan trang uy dũng), DỊ (đặc biệt ví dụ này có 8 màu, mắt hai con người), Nọn (béo phì) cũng quý.

3. Tướng mặt có phân 10 điểm đặc biệt (10 chữ T.Q): – Mặt tròn (chữ Viên): Đầy đặn, sáng sủa. – Mặt vuông (chữ Điền): Rộng cương nghị. – Mặt quả trứng (chữ Do): Dưới rộng trên hẹp, kém cỏi. – Mặt da sần sùi (chữ Phong): Giầu có, bệnh lý. – Mặt lệch (chữ Dụng): Không cân đối trái phải của mặt. – Mặt dài (chữ Mục): Không thiên tâm (mặt ngựa). – Mặt có 2 gò má cao (chữ Đồng): 4 góc vuông: Quý. – Mặt có 2 gò má nhọn (chữ Vuông): Quý. – Mặt có trán rộng nhô: Bướng bỉnh. – Mặt có xương lưỡng quyền nhô cao phía dưới gầy (chữ Thân) có uy quyền.

4. Chín thuật quan sát tướng mạo của các tướng Thuật gia Trung Quốc cần xem xét: – Tinh thần, Hồn phách, Khí sắc, Hành động, Cử chỉ, Mắt, Tài trí, Đức độ, những thể hiện bên trong. – Chín thuật này được chi tiết: Nhất thành (một cách biểu tinh thần minh mẫn). Nhị thành (hai cách biểu hồn phách ổn định). Tam thành (ba cách biểu hình dạng khoan thai). Tứ thành (bôn cách biểu khí sắc trong sáng). Ngũ thành (năm cách biểu hành động đúng cách). Lục thành (sáu cách biểu hành động đàng hoàng). Thất thành (bảy cách biểu đánh giá sự việc chính xác). Bát thành (tám cách biểu thông minh, tài trí). Cửu thành (chín cách biểu làm điều có đức). “Cửu thành chi thuật” (chín cách thuật xem tướng) là căn cứ tướng hình xương và cách hành sự của người mà các tướng Thuật gia cân.

5. 36 phép nhận xét tướng mạo một người. Bao gồm tướng: Đầu, Tóc, Mày, Mắt, Tai, Mũi, Nhân trung, Môi, Răng, Lưỡi, Râu, Não, cổ, Vú, Bụng, Lưng, Rốn, Sườn, Vai, Bắp đùi, Chân, Ngọc kính, Âm nang, cổ đạo, Long, Móng tay, Nốt ruồi, Bớt, Điểm, Da, Xương, Máu, Xương chẩm, Thanh âm, Bàn tay, Chỉ tay.

Cập nhật thông tin chi tiết về Nhân Tướng Học Và Quan Niệm Giáo Dục / 2023 trên website Hartford-institute.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!