Xem Ngay Tot De Di Hoc Nghe / Top 6 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Hartford-institute.edu.vn

Ngay Lanh Va Thang Tot

HỎI : Tôi là một Phật tử, có tìm hiểu kinh sách Phật giáo và biết rằng đạo Phật không có quan niệm coi ngày tốt xấu. Nên trước khi muốn làm gì thì chỉ cần thành tâm tụng kinh, lễ sám, làm phước và cầu nguyện cho công việc được thành tựu mà không cần coi ngày. Dù biết vậy nhưng chuẩn bị cho lễ kết hôn, trước chuyện hôn nhân đại sự tôi có đến chùa nhờ thầy coi giúp ngày lành tháng tốt để làm đám cưới. Thầy coi xong cho biết rằng tôi và người yêu không thể cưới nhau trong 2 năm nữa vì hai năm đó tôi và người yêu không được tuổi. Hiện lòng tôi rất hoang mang, lo lắng và không biết giải quyết làm sao ? Xin quý vị cho biết về ngày tốt, xấu có thực không ? Nếu không tại sao trong chùa các thầy lại coi ngày ? Điều này có trái với lời Phật dạy không ? Tôi cũng tin sâu vào nhân quả và hiểu rõ “đức năng thắng số” nhưng lòng hơi lo sợ vì nếu không nghe lời thầy thì sau này biết đâu gặp nhiều điều không vui hay trắc trở lại đổ thừa là do cưới không đúng ngày tháng tốt. Sau này biết đâu gặp nhiều điều không vui hay trắc trở do cưới không đúng ngày tháng tốt.

ĐÁP : Đúng như bạn đã nhận thức, Phật giáo không có quan niệm về ngày tốt, ngày xấu mà ngày nào cũng có thể trở thành tốt hoặc xấu tùy theo suy nghĩ, lời nói và hành động thiện hay ác của chúng ta. Do vậy, trước lúc khởi sự làm bất cứ công việc gì, người Phật tử có Chánh kiến đều không quan trọng vấn đề coi ngày mà cần vận dụng Chánh tư duy suy xét kỹ lưỡng để thấy việc mình sắp làm là đúng, lợi mình và lợi người đồng thời lấy phước đức của bản thân đã gieo trồng làm nền tảng để cầu cho tâm nguyện được viên thành. Tùy theo tuệ giác và phước đức của mỗi người mà công việc sẽ thành tựu nhiều hay ít chứ không phải do nơi coi ngày. Ngày lành tháng tốt nếu có chăng thì cũng chỉ là một trong những nhân duyên để góp phần tạo nên kết quả chứ không phải là yếu tố chính yếu, quyết định sự thành bại.

Tập tục coi ngày lành tháng tốt để khởi sự cho mọi công việc, nhất là những việc trọng đại của đời người, ảnh hưởng sâu đậm văn hóa Trung Hoa và rất phổ biến trong các nước Á Đông. Người Việt chúng ta chịu ảnh hưởng sâu sắc nét văn hóa này nên đa phần đều có coi ngày trước khi khởi sự làm việc. Rất nhiều người sau khi chuẩn bị đầy đủ các yếu tố cần thiết cho công việc họ cũng đi coi ngày nhưng xem đó chỉ là yếu tố trợ duyên, giúp cho họ an tâm và thỏa mãn niềm tin của các đối tác đang chung sức làm việc. Vậy nên, bạn là một Phật tử, dù có chút hiểu biết giáo lý nhưng để chuẩn bị kết hôn bạn đã đến chùa coi ngày lành tháng tốt là chuyện rất bình thường, khá nhiều người cũng hành xử như bạn.

Đối với vấn đề vì sao đạo Phật không có quan niệm về ngày tốt ngày xấu và ngay cả trong kinh Di Giáo, trước khi nhập Niết bàn, Đức Phật đã huấn thị hàng đệ tử không xem thiên văn, địa lý, số mạng, ngày giờ tốt xấu… mà hiện nay một số chùa vẫn coi ngày ? Điều này có trái với lời Phật dạy không ? Như đã nói, ngày tốt hay xấu tùy thuộc vào chúng ta. Bản thân chúng ta tự làm nên cho mình một ngày tốt đẹp chứ không phải nhờ ngày tốt mà tạo nên nhân cách tốt hay giúp cho công việc trôi chảy, thuận lợi. Tuy nhiên, một số người Phật tử vì chưa có đầy đủ chánh kiến để vững tin vào bản thân mình nên đến chùa nhờ tìm giúp cho một ngày tốt để an tâm làm việc. Nhà chùa cũng bất đắc dĩ, phương tiện mà coi cho nhưng việc chọn ngày tốt chỉ nhằm trợ duyên, hoàn toàn không mang tính quyết định.

Còn nếu Phật tử nào đã tin sâu nhân quả, hiểu rõ “đức năng thắng số” thì ngày giờ là tùy duyên, ngày nào hội đủ duyên lành là ngày tốt, bản thân mình luôn sống tốt và tạo nhiều phước đức thì ngày nào cũng tốt cả. Đối với chuyện hôn nhân, muốn xây dựng hạnh phúc bền lâu đòi hỏi hai người phải kiện toàn nhiều yếu tố, trong đó quan trọng nhất là phải thực sự hiểu và thương yêu nhau. Ngày giờ cưới hỏi dù tốt đến mấy cũng không phải là yếu tố quyết định cuộc hôn nhân hạnh phúc. Theo quan điểm Phật giáo, để xây dựng một cuộc hôn nhân hạnh phúc lâu dài, các thành viên trong gia đình phải có đạo đức (giữ 5 giới), biết tu học để chuyển hóa những tập khí xấu ác, biết nhường nhịn, tha thứ và yêu thương… Hạnh phúc hôn nhân là một thực thể sống động nên cần được vun bồi, tưới tẩm, chăm sóc và nuôi dưỡng hàng ngày.

Một khi đã hiểu rõ điều gì là chính yếu và điều gì là phụ thuộc rồi thì bạn không có gì phải băn khoăn và lo lắng nhiều. Nếu không tìm ra năm tốt thì vẫn có thể tìm được ngày tháng tốt. Mặt khác, ngày tốt đích thực do mình tạo nên vì thế không nên quá lệ thuộc vào ngày giờ tốt bên ngoài, đó là chưa kể đến chuyện nhiều khi vì chờ đợi ngày tốt mà lỡ việc thì chưa hẳn ngày “tốt” ấy đã thực sự là tốt. Hiện bạn đã có niềm tin nhân quả và biết được “đức năng thắng số” và đã sẵn sàng cho đời sống hôn nhân thì ngày cưới là tùy duyên. Cốt tủy là bạn và người bạn đời của bạn cần xây dựng một lối sống đạo hạnh, tích phước bồi đức thì mọi chuyện sẽ hanh thông, vạn sự sẽ cát tường như ý./.

Di Lặc và Thần Tài

Hỏi : Trong mùa xuân này, tôi đến một số nơi và thấy nhiều mẫu tượng Phật Di Lặc khác nhau. Tượng Di Lặc đứng hoặc ngồi bụng no tròn, nét mặt sáng ngời, vui vẻ. Có nơi Tượng Ngài cũng như thế nhưng thêm chi tiết đứng trên một cái bao lớn, lưng đeo “bầu rượu”, giữa bụng có chữ Phước.

Nơi khác tượng Di Lặc lại có thêm hai tay nâng thỏi vàng lên cao, hoặc tay cầm xâu tiền đồng, hoặc vai gánh trái đào, nón đeo sau lưng, đứng trên bao lớn v.v… Tôi hỏi thì hầu hết mọi người nói đó là tượng Phật Di Lặc. Tuy nhiên, khi hỏi những người bán đồ thờ cúng thì được cho biết đó là tượng ông thần Tài. Hiện tôi rất băn khoăn để phân biệt đâu là tượng Thần Tài và đâu là tượng Phật Di Lặc, mong quý Thầy hoan hỷ chỉ giáo cho.

Đáp : Theo nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Huỳnh Ngọc Trảng thì tục thờ thần Tài có từ lâu đời và phổ biến trong các cộng đồng người Hoa. Trước hết, Thổ Địa là một trong những vị thần Tài. Do nông nghiệp chiếm vai trò quan trọng trong lịch sử nên đất đai cùng các loại nông phẩm từ đất sinh ra là thứ của cải, tài sản chủ yếu nên thần Đất cũng là thần Tài. Mặt khác, thần Đất có công năng là thần Tài do thuyết ngũ hành tương sinh : Thổ sinh kim.

Ngoài thần Đất được thờ tự để cầu tài, người Hoa còn thờ nhiều thần Tài khác. Phổ biến và tôn quý nhất là Tài Bạch tinh quân. Đây là vị thần thường thờ tự tôn kính ở các đền miếu, đặc biệt phổ biến là các cơ sở thờ tự thuộc nhóm phương tộc Triều Châu. Tài Bạch tinh quân gồm 5 vị thần, chủ bộ Tài lộc thiên giới, do Triệu Nguyên soái hay Triệu Công Minh đứng đầu.

Trên trời có Tài Bạch tinh quân, dưới đất cũng có thần Tài âm phủ. Hình tướng vị thần Tài này giống một phán quan, đen thui, trên đầu đội mũ ống cao, có dòng chữ “Nhất kiến phát tài”. Ngoài ra còn có thần Tài Phạm Lãi (trung thần của Việt Vương Câu Tiễn), thần Tài Lưu Hải (Tể tướng triều Lương), thần Tài Hòa Hợp nhị tiên, thần Tài Quan Công v..v…

Người Việt là cư dân “dĩ nông vi bản” nên bảo thủ tập tục thờ thần Đất và tín lý phồn thực. Đến cuối thế kỷ XIX sang đầu thế kỷ XX, thần Đất và thần Tài ở xứ ta vẫn chưa khu biệt rõ. Trong Đại Nam quốc âm tự vị (Sài Gòn, 1895), tác giả Huỳnh Tịnh Của cắt nghĩa Thổ thần và Tài thần đều là “thần Đất, thần giữ tiền bạc” và đến tận bây giờ, thần Tài và Thổ Địa vẫn cứ được thờ chung như một cặp đôi bất khả phân ly ở khắp nơi, từ văn phòng công ty, tiệm quán, tư gia… Và điều đáng chú ý là, hình tượng vị thần Tài của người Việt, xét về mặt đồ tượng học, là một biến thể của Thổ Địa Phước đức chính thần của người Hoa.

Qua những cứ liệu trên, chúng ta thấy rõ rằng, dù có nhiều vị thần Tài khác nhau được tôn thờ trong dân gian nhưng hình tượng của chư vị thần Tài ấy hoàn toàn khác với tôn tượng của Bồ tát Di Lặc (Bố Đại Hòa thượng) của Phật giáo với nét đặc trưng là hình dáng vị Tăng có chiếc bụng lớn, miệng cười hoan hỷ, tay cầm túi đãy lớn, thường có trẻ nhỏ đeo bám xung quanh…

Như thế, tượng Ngài Di Lặc nâng thoi vàng hiện nay là một biến thể do dân gian sáng tạo ra, gán ghép cho Ngài chứ không theo quy chuẩn đồ tượng học Phật giáo. Và tất nhiên, không thể gọi Ngài Di Lặc là thần Tài được. Ngài là Bồ tát chứ không phải thánh thần, dù rằng Ngài được tin tưởng và sùng kính là vị Bồ tát luôn ban tặng niềm vui, hỷ xả, sức khỏe và phúc lộc.

Theo quan niệm của thuật Phong thủy phương Đông, tượng Di Lặc, thoi vàng, bình vàng bạc,… được xếp vào Tài thần dùng để chiêu tài, bày biện tại gia trạch hoặc cửa hiệu để tăng thêm phúc lộc, hóa sát, thu tài. Vì thế, việc gán ghép vàng thỏi, tiền xâu lên tôn tượng Di Lặc là một sự gán ép, khập khiễng và vô hình trung “thế tục hóa” Ngài, dù điều ấy chỉ thể hiện lòng mong mỏi chân thành được phúc lộc, thịnh phát./.

Tô Tử

Cô độc mà không cô đơn

Một thời, Tỳ kheo Vajjiputtaka trú ở Vesàli, tại một khu rừng.

Lúc bấy giờ có một cuộc lễ tổ chức suốt đêm ở Vesàli.

Tỳ kheo ấy được nghe tiếng nhạc khí, tiếng cồng v.v… đánh lên, tiếng ồn ào khởi lên, liền than thở, nói lên ngay lúc ấy bài kệ này : “Chúng ta sống một mình; trong khu rừng cô độc; như khúc gỗ lột vỏ; lăn lóc trong rừng sâu; trong đêm tối hân hoan; như hiện tại đêm nay; ai sống đời bất hạnh; như chúng ta hiện sống”.

Rồi một vị trời trú ở khu rừng ấy, có lòng thương xót vị Tỳ kheo kia, muốn hạnh phúc, muốn cảnh giác, liền đi đến vị Tỳ kheo. Sau khi đến, vị Trời ấy nói lên bài kệ : “Ông sống chỉ một mình; trong khu rừng cô độc; như khúc gỗ lột vỏ; lăn lóc trong rừng sâu; rất nhiều người thèm muốn; đời sống như ông vậy; như kẻ đọa địa ngục; thèm muốn sanh thiên giới.”

Tỳ kheo ấy được vị Trời cảnh giác, tâm hết sức xúc động.

(Đại Tạng Kinh VN, Tương Ưng Bộ I, chương 9 Tương Ưng Rừng, phần Vajjiputta, ấn bản năm 1993, tr 443)

Lời bàn : Dù đã phát nguyện dấn thân, tự nguyện chấp nhận sống đời cô độc nhưng thỉnh thoảng bất chợt xuất hiện cảm giác cô đơn, trống trải âu cũng là chuyện thường tình. Đặc biệt, trong trường hợp hạnh phúc xuất thế chưa đạt được mà hạnh phúc đời thường lại chưa có thì cảm giác cô đơn lại dễ ùa về xâm chiếm tâm hồn chúng ta hơn, nhất là những khi xung quanh ta ngập tràn không khí lễ hội, ca nhạc ồn ào náo nhiệt.

Một vị Tỳ kheo sống cô độc trong rừng, vì thiếu chánh niệm cho nên chợt chạnh lòng, cảm thấy cô đơn, xót xa cho thân phận bất hạnh. Đây là một biểu hiện quen thuộc của tâm hoang vu khi nó bị thiếu kiểm soát, thiếu ý thức về thực tại. Để khắc phục tình trạng này, hành giả nhanh chóng trở về thực tại bằng cách hướng tâm vào chánh niệm. Đề mục để duy trì chánh niệm có thể là niệm danh hiệu Phật, chú tâm vào hơi thở hoặc thiền quán về tâm thức đương tại… khi đã an trú tâm vào chánh niệm thì cảm giác cô đơn bị đẩy lùi và triệt tiêu.

Theo tuệ giác Thế Tôn, người tu nhờ biết duy trì chánh niệm thường trực nên dù sống cô độc mà không hề cô đơn. Bí quyết sống hạnh phúc, hoan hỉ vui tươi, tâm sung mãn bi trí của người biết sống một mình là pháp lạc, hoa trái của chánh niệm. Một vị trời nhận thức sâu sắc về hạnh phúc nội tâm của một ẩn sĩ nên khẳng định “rất nhiều người thèm muốn, đời sống như ông vậy”. Nhất là trong cuộc sống hiện tại với vô vàn biến động, đầy dẫy trói buộc, hệ lụy và hư dối thì một cuộc sống thanh bình, tĩnh tại nhưng sung mãn hạnh phúc tự nội vẫn là mong muốn, khát vọng của nhiều người.

Cô đơn, trống vắng và những tâm hồn đi hoang hội chứng làm điêu linh tâm thức của con người hiện đại. Họ thường chạy trốn và sợ hãi cô đơn, nhất là khi phải đối diện với chính mình. Vì vậy, phải nhận diện và thân thiện với tâm hoang vu của bản thân để thấy rằng cô đơn không khủng khiếp và đáng sợ như ta tưởng, vì cô đơn vốn không thực. Hãy thắp sáng chánh niệm để làm chủ và an trú tâm, nuôi dưỡng tâm bằng niềm hạnh phúc tự nội. Đây chính là bí quyết cư trần lạc đạo của những người tu Phật.

Quảng Tánh

Học Phong Thủy Cơ Bản,Hoc Phong Thuy Mien Phi,Học Phong Thủy Ở Đâu,Học Phong Thủy Online,Phong Thuy Ban Hoc,Khoa Hoc Phong Thuy,Phong Thủy Bàn Học Theo Tuổi,Hoc Xem Phong Thuy,Tu Hoc Phong Thuy,Lop Hoc Phong Thuy,Học Phong Thủy Bắt Đầu Từ Đâu,Tự Học Phong Thủy Căn Bản,Hoc Phong Thuy O Dau,Phong Thuy Goc Hoc Tap,Học Phong Thủy Ở Tphcm,Phong Thuy Phong Hoc Cho Con,Phong Thủy Phòng Học Theo Tuổi,Hoc Phong Thuy Tren Mang,Cách Học Phong Thủy,Phong Thuy Hoc Com,Day Hoc Phong Thuy,Học Phong Thủy Ở Hà Nội,Lop Hoc Phong Thuy Tphcm,Lớp Học Phong Thủy Tại Hà Nội,Học Về Phong Thủy,Hoc Phong Thuy Tam An,Học Phong Thủy Nhà Ở,Hoc Phong Thuy Truc Tuyen,Tài Liệu Học Phong Thủy Cơ Bản,Phong Thuy Hoc Gioi

Tác giả tại Dương Công Từ (đền thờ Dương Quân Tùng) – nguồn: TMFS

Dương Quân Tùng(楊筠松) hay còn được gọi là Dương Công, Dương Cứu Bần (thầy Dương cứu người nghèo). Ông tên là Ích, tự là Thúc Mậu, hiệu là Quân Tùng, sinh năm 834 – mất năm 906 vào thời nhà Đường. Ông sinh ra ở vùng Đậu Châu, ngày nay thuộc tỉnh Quảng Đông, là người thuộc dân tộc Khách Gia. Ông được người đời gọi là Phong Thủy Đại Tông Sư, là cha đẻ, người khai phá hoằng dương ích dân thuật Phong Thủy.

Tất cả các trường phái Phong Thủy đều xem ông như Đại Tổ Sư, kinh điển các sách về Phong Thủy đều trích dẫn các tác phẩm của ông. Nói đến các nguyên tác của Dương Quân Tùng thì cho đến nay vẫn còn nhiều tranh cãi xem tác phẩm nào là chính gốc, tác phẩm nào là do người đời sau giả mạo. Sinh thời ông chỉ đích thân viết ra 7 tác phẩm: Thanh Nang Áo Ngữ, Thiên Ngọc Kinh, Ngọc Xích Kinh, Ngọc Hàm Kinh, Đô Thiên Bảo Chiếu Kinh, Hám Long Kinh và Nghi Long Kinh và đây là những tác phẩm gốc mà trường phái Dương Công Cổ Pháp Cống Châu dựa làm căn bản. Người đời sau, thuộc các phái Tam Hợp hoặc Tam Nguyên Huyền Không dựa vào các tác phẩm gốc mà thêm bớt nhiều câu chữ khác nguyên tác hoặc nhiều tác phẩm khác cũng cho là của Dương Công viết.

Vào năm 17 tuổi, ông đỗ vào làm quan trong triều nhà Đường, nắm vị trí Chưởng Linh Đài Địa Lý, làm quan đến chức Kim Tử Quang Lộc Đại Phu. Vào thời tàn Đường vua Đường Hy Tông, ở tuổi 45, ông bất mãn vì triều đình tham quan thối nát và tình cảnh dân nghèo túng, nhân lúc vua Đường Hy Tông lánh nạn giặc Hoàng Sào nổi lên nên đánh cắp nhiều sách vở quý giá về thuật Kham Dư (Phong Thủy) trong Tàng Kinh Các.

Lược sử về Dương Công tại làng Lưu Khanh – nguồn: TuongMinhFengShui

Ông trốn sự truy bắt của triều đình Tràng An và về vùng mà ông cho là Phong Thủy Bảo Địa là Cống Châu thuộc tỉnh Giang Tây ngày nay. Ông dành hết quãng đời còn lại để nghiên cứu và thực hành, áp dụng Phong Thủy cứu giúp người nghèo cùng với 3 đại đệ tử của mình là Tăng Văn Xương (có một số sử liệu lại ghi nhầm là Tăng Văn Địch曾文迪),Lưu Giang Đông (劉江東)và Liêu Vũ (廖禹).

Có nhiều sách ghi nhầm lẫn là Lại Bố Y hay Lưu Khiêm cũng là đệ tử tuy nhiên thực ra là không phải. Tuy lại Lại Bố Y cũng được xem là 1 Đại Danh Sư Phong Thủy nhưng ông không phải là đệ tử chân truyền của Dương Công mà chỉ là người kế thừa về sau. Chúng tôi sẽ đề cập đến nhân vật lừng lẫy này trong 1 bài viết khác.

Vì để trốn tránh sự lùng sục truy bắt của triều đình nên ông thường trốn trên đỉnh những ngọn núi cao nhất của Cống Châu để dạy và nghiên cứu Phong Thủy. Ngày nay vẫn còn di tích ngôi nhà ngày xưa ông ở trên đỉnh núi và nơi đây được gọi là Dương Tiên Lĩnh (dãy núi của Tiên Ông Dương Công, chữ Lĩnh này giống chữ Lĩnh trong Hồng Lĩnh Lam Giang ở vùng Hà Tĩnh để chỉ những dãy núi cao ngất, hùng vĩ và linh thiêng) vì sau khi ông mất đi được xem như là 1 vị thần tiên.

Sau lưng tác giả là dãy Dương Tiên Lĩnh – nguồn: TuongMinhFengShui

Chúng tôi đã được vinh dự leo mệt bở hơi tai, mồ hôi vã như tắm lên trên đỉnh này và đã nhờ sự hiển linh của Dương Công khai quang cho một số La Bàn.

Tác giả đo đạc sinh khí từ con sông Chương trên đỉnh Dương Tiên Lĩnh

Năng lượng trên đỉnh Dương Tiên Lĩnh là rất mạnh mẽ nên chỉ sau vài phút là giúp người nhanh chóng lấy lại sinh lực. Sau khi khảo sát đo đạc với những cổ thư của trường phái Dương Công Cổ Pháp thì ngôi nhà ngày xưa nơi Dương Công trú ngụ liên tục được đón nhận luồng Sinh Khí từ con sông Chương ào ạt chảy đến, Long Khí từ Dãy Tiên Lĩnh cũng không ngừng sôi sục, chẳng trách ngày xưa dù tuổi rất cao, ông vẫn muốn ở trên đỉnh núi này để cứu bần.

Chúng tôi xin hẹn bạn đọc vào bài viết sau “Những truyền thuyết về Dãy Núi Dương Tiên Lĩnh”.

Thầy Phong Thuỷ Nguyễn Thành Phương

Thành Viên Full Member Hiệp Hội Phong Thủy Quốc Tế IFSA

Viện Nghiên Cứu Ứng Dụng Kiến Trúc Phong Thủy – Academy of Feng Shui Applied in Architecture (AFSA)

Cố Vấn Cao Cấp công ty TNHH Tường Minh Phong Thuỷ (TMFS)

Gỉang Viên Chính Trung Tâm Tường Minh Phong Thuỷ

Gỉang Viên Hợp Tác Đào Tạo các chương trình Gíao Dục Kỹ Năng & Trực Tuyến như Sáng Tạo Việt, Topica, Unica, Ulearn, v.v…

4 Cách liên hệ để nhận trợ giúp từ Tường Minh Phong Thuỷ & chúng tôi sẽ phản hồi thông tin của quý vị trong thời gian sớm nhất.

Địa chỉ văn phòng: số 54, Đinh Công Tráng, Phường Tân Định, Quận 1, TP. Hồ Chí Minh

Tổng đài Số điện thoại: 08.6681.4141 – 0981.229.461

Hộp thư điện tử: tuvan@phongthuytuongminh.com

Form liên hệ: http://phongthuytuongminh.com/contact

Xem Bói Ẩn Mình Ở Di Tích

Hoạt động xem tay, tướng số diễn ra công khai tại đền Kiếp Bạc

Núp bóng người bán hàng

Trong vai người đi hành hương dịp đầu xuân, chúng tôi về khu di tích Kiếp Bạc. Vừa tới cổng đền, chúng tôi đã bị 3người phụ nữ vây xung quanh, đeo bám, liên tục mời chào viết sớ, sắm lễ và xem tử vi, tướng số. Chúng tôi đồng ý và được một phụ nữ khoảng 40 tuổi dẫn vào cửa hàng chăng biển viết sớ, bán tiền vàng, hoa tươi… cách đó vài chục mét. Trong cửa hàng có tới 2 “thầy” ngồi đợi sẵn. Một người khoảng 65-70 tuổi ngồi bàn phía ngoài, một người trẻ hơn ngồi bàn bên trong. Nghe chị kia giới thiệu 2người tên là Minh và Chính. Sau màn chào hỏi xã giao, chúng tôi được mời ngồi xuống ghế và cung cấp một số thông tin cơ bản về bản thân theo yêu cầu của 2 người này như tên, tuổi, quê quán, công việc, gia đình… Khoảng 2 phút xem tay, đồng nghiệp của tôi được thầy phán: “Được lộc, được tài lắm đây. Năm nay, cháu về đây cầu gì được nấy. Ông viết cho cháu sớ. Cháu sắm mâm tiền vàng, hương, hoa… vào đền làm lễ mà xin lộc”. Người còn lại xem cho tôi bảo: “Năm nay con sao xấu, tháng 3, tháng 9 phải đi lại cẩn thận. Giờ thầy viết sớ, sắp cho con mâm lễ để vào dâng thánh che chở”.

Chỉ vài lời phán chung chung, mỗi thầy bỏ túi 20.000 đồng. Mâm lễ gồm tiền vàng, hoa, bánh, trầu, cau… trị giá chỉ vài chục nghìn đồng nhưng được đẩy lên từ 120.000 – 250.000 đồng. Chúng tôi không mua mâm lễ, một người liền mở trong chiếc túi màu đen đưa ra túi nilon, bên trong có tấm vải màu vàng nói: “Không mua lễ thì mua túi lộc, ấn đền Kiếp Bạc cho tai qua nạn khỏi”.

Tại những cửa hàng xung quanh cũng có du khách đang ngồi xem tay. Không biết thầy phán thế nào nhưng một cặp vợ chồng sau khi xem xong mặt tươi hớn hở, trên tay bưng mâm lễ đầy đi vào đền. Một thanh niên khác xem xong bỏ cả trăm nghìn mua 2 túi lộc như trên.

Trở lại khu vực cổng đền Kiếp Bạc, chúng tôi gặp mấy người phụ nữ lúc đầu. Đứng nói chuyện cùng chúng tôi nhưng hễ có khách đến là họ lại chạy ra chèo kéo. Một trong số phụ nữ này cho biết hầu như cửa hàng nào chăng biển viết sớ ở đây cũng có người có thể xem bói. Mỗi lần dẫn được khách vào xem bói họ đều được trả tiền hoa hồng. Những người hành nghề mê tín dị đoan đều là người dân bản địa.

Tại đền Cao ở xã An Lạc (Chí Linh) không có người chèo kéo, mời gọi xem bói. Tuy vậy, khi vào trong khuôn viên di tích, chúng tôi vẫn được một người bán hàng gạ bóc quẻ xem vận mệnh đầu năm với giá 10.000đồng/quẻ. Một xấp quẻ được đựng cẩn thận trong túi nilon, để ở trong hòm kín, chỉ khi có khách mới bỏ ra. Chúng tôi mua 3 quẻ và nhận thấy một điểm chung là đoạn kết của mỗi quẻ đều nói có tài, lộc, may mắn. Thắc mắc về điều này, người bán hàng nói một câu ngắn gọn: “Tất cả chỉ là mang tính chất tham khảo, tương đối thôi”.

Tại đền Đoan – di tích chưa được xếp hạng nằm ở ven sông Luộc thuộc thị trấn Ninh Giang có thầy tên Lương chuyên xem tay, xem tướng, xem bài công khai. Về đây xem tay, đồng nghiệp của tôi được thầy phán: “Có nhiều cơ hội thành công. Khung tài lộc tương đối tốt. Có lộc thiên phú, chịu khó kêu cầu…”. Như để tạo lòng tin cho đồng nghiệp của tôi, thầy Lương quả quyết: “Sau tuổi 37 mà con không phát tài thì thầy nghỉ xem tướng luôn…”. Thầy bảo mỗi lần xem, người khác thường đưa thầy một vài trăm nghìn, nhưng vì đồng nghiệp tôi còn trẻ nên đưa bao nhiêu thì tùy.

Một phụ nữ (ngoài cùng bên phải) đeo bám, gạ gẫm du khách mua sớ, xem bói tại cổng đền Kiếp Bạc

Chưa xử lý kiên quyết

Mặc dù đã bị pháp luật cấm nhưng xem bói vẫn đang tồn tại ở một số di tích trong tỉnh và đến nay vẫn chưa được xử lý tận gốc. Những người hành nghề mê tín dị đoan vẫn có “đất sống” ở di tích trước hết do một bộ phận không nhỏ người dân còn mê muội, tin vào bói toán. Bên cạnh đó, việc chính quyền một số nơi chưa sâu sát, thiếu kiên quyết trong xử lý cũng là một nguyên nhân. Khi được hỏi về thực trạng xem bói ở đền Đoan, ông Bùi Sơn Giang, Bí thư Đảng ủy thị trấn Ninh Giang trả lời rằng: “Chúng tôi chưa nhận được phản ánh, nếu có thì sẽ nhắc nhở, uốn nắn”.

Mới đây, một trường hợp trưng biển xem tướng ở khu vực đền Kiếp Bạc đã bị các cơ quan chức năng lập biên bản, xử phạt hành chính. Đại diện Công an xã Hưng Đạo (Chí Linh) thừa nhận mặc dù đã tích cực tuyên truyền, hướng dẫn các hộ ký cam kết nhưng người dân vẫn lén lút hành nghề bói toán. Do lực lượng mỏng, quá trình kiểm tra, giám sát không rõ bằng chứng nên việc xử lý gặp nhiều khó khăn.

Tuy nhiên, một số ý kiến cho rằng những giải thích này từ phía Công an xã Hưng Đạo là chưa thực sự thuyết phục. “Nếu phát hiện trường hợp vi phạm thì ngoài việc lập biên bản xử phạt thật nặng nên cấm vĩnh viễn không cho kinh doanh ở đây nữa xem ai còn dám hành nghề xem bói không”, một người dân xã Hưng Đạo nêu ý kiến.

Chọn Ngày Tốt, Giờ Lành Xuất Hành Dịp Tết Ất Mùi, Chon Ngay Tot Gio Lanh Xuat Hanh Dip Tet At Mui. Vui Lòng Gọi 0904 259 736

Xuất hành vào ngày nào?

Theo chúng tôi khoa học Hoàng Tuấn (Trung tâm UNESCO Nghiên cứu và ứng dụng văn hóa Á Đông), xuất hành đầu năm nôm na là lần đi ra khỏi nhà đầu tiên của năm mới (tính từ sau Giao thừa). Người xưa quan niệm, mỗi ngày đều có 3 vị thần giám sát ở 3 hướng chính, trong đó có thần tốt và thần nghiêm khắc, thần khó tính. Người dân thường chọn đi về hướng có Hỷ Thần, Tài Thần với mong muốn cầu may, cầu tài lộc… cho gia đình và chính mình.

Từ xưa vẫn quan niệm rằng, ngày mùng 1 đầu năm là ngày đại cát tường, là ngày đẹp nhất để xuất hành. Nếu xuất hành vào ngày mồng 1 Tết năm nay nên xuất hành theo hướng Đông (Tài thần) hoặc hướng Tây Nam (Hỷ thần). Cùng với việc chọn ngày giờ, phương hướng phù hợp để xuất hành, người Việt cũng có quan niệm rằng mùng 5 là ngày nguyệt kỵ không thích hợp cho xuất hành nên mới có câu: “Mồng năm, mười bốn, hăm ba. Đi chơi cũng thiệt nữa là đi buôn”.

Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải (Viện Nghiên cứu ứng dụng tiềm năng con người), lần ra khỏi nhà đầu tiên của năm mới nên đi lễ chùa và những nơi thiêng liêng, thanh tịnh. Không nhất thiết phải đến các chùa nổi tiếng mà tới lễ chùa ở nơi gần nhất. Năm mới nhiều người kiêng tới nhà người khác vì sợ không đúng tuổi sẽ làm người ta mất hên. Vì vậy họ thường hướng tới chùa chiền, đình, đền lễ bái.

Còn theo sư thầy Hải – trụ trì chùa Bến (Yên Mỹ, Hưng Yên), đạo Phật không có chủ trương xem ngày giờ tốt xấu. Đạo Phật chỉ tin sâu vào nhân quả, phật giáo quan niệm rằng, tùy thuộc nghiệp nhân quả của mỗi người trong quá khứ mà tác thành nghiệp quả tốt hay xấu của chính họ trong tương lai. Việc chọn hướng vì thế cũng không câu nệ, hướng xuất hành chỉ cần hợp hướng nào thì xuất hành hướng đó. Chỉ cần trong tâm hướng tới cái thiện cũng như không làm điều gì ác thì may mắn sẽ đến với gia chủ trong cả năm.

Ngày, giờ đẹp khai trương

Theo các chuyên gia, dịp Tết Ất Mùi, bên cạnh ngày mùng 1 thì các ngày mùng 2, mùng 6, mùng 8 và mùng 10 là những ngày tốt lành để xuất hành, khai trương, mở hàng, ký kết đầu năm. Theo đó, tới giờ Hoàng đạo hãy bắt đầu xuất hành về hướng Tây Nam (Hỷ Thần: Đại cát lợi). Với các tuổi không kị, không hợp với giờ xuất hành, nếu không thể chờ đợi được thì vẫn có thể xuất hành, không nhất thiết phải đợi đến giờ hợp tuổi mới xuất hành.

Hướng xuất hành là hướng tính từ cửa nhà chiếu đến nơi định đến, không phải hướng từ cổng nhà đi ra. Nếu không được hướng thì nên vào chùa, đình, đền cho được hướng, rồi hãy đi tiếp đến nơi định đến.

Có thể chọn ngày giờ xuất hành tính theo tuổi mệnh. Ví như năm Ất Mùi 2015 hành Kim, nên chọn hướng có Kim vượng (Bắc, Tây Bắc và Đông Nam) để xuất hành. Tốt nhất là xuất hành về hướng Tây Nam vì được Đại cát lợi.

– Giờ Tý: Từ 23h – 1h (kị tuổi Ngọ. Hợp tuổi Thìn, Thân, Sửu)

– Giờ Sửu: Từ 1h – 3h (kị tuổi Mùi. Hợp tuổi Tỵ, Dậu, Tý).

– Giờ Thìn: Từ 7h – 9 giờ (kị tuổi Tuất. Hợp tuổi Tý, Thân, Dậu).

– Giờ Tỵ: Từ 9h – 11h (kị tuổi Hợi. Hợp tuổi Sửu, Dậu, Thân)

– Giờ Mùi: Từ 13h – 15h (kị tuổi Sửu. Hợp tuổi Mão, Hợi, Ngọ)

– Giờ Tuất: Từ 19h – 21h (kị tuổi Thìn. Hợp tuổi Dần, Ngọ, Mão).

Mùng 1 Tết: Giờ tốt: Thìn, Mùi, Tuất. Nên xuất hành, thăm người thân, lễ bái, hội họp, khai bút, trồng cây (kị xây dựng). Cầu duyên đi về Tây Nam, cầu tài đi về phương Đông.

Mùng 2 Tết: Giờ tốt: Mão, Ngọ, Mùi, Dậu. Hướng tốt: Đông.

Cầu duyên đi về Nam, cầu tài đi về hướng Đông. Nên xuất hành, mở hàng xuất kho, đi lễ chùa, thăm người thân, trồng cây. Kỵ động thổ, nhập trạch, khai trương.

Ngày mùng 3 Tết: Giờ tốt: Thìn, Tỵ, Thân, Dậu, Hợi. Hướng tốt Đông Nam. Cầu duyên đi về Đông Nam, cầu tài đi về hướng Bắc. Nên khai trương, đi lễ cầu tài lộc, thăm người thân, hóa vàng, trồng cây. Kỵ động thổ, giá thú, an táng.

Ngày mùng 4 Tết: Ngày sát chủ, xấu, không làm việc lớn. Chỉ đi lễ, thăm người thân, trồng cây. Giờ tốt: Thìn, Tỵ, Thân.

Ngày mùng 6 Tết: Có sao Nhân chuyên là sao tốt, giải được sao xấu. Có thể động thổ, khai trương, giao dịch, giao tài vật, xuất hành, mở kho, giá thú, tang tế. Giờ tốt: Sửu, Mão, Mùi, Thân. Hướng tốt: Cầu duyên đi về chính Nam, cầu tài đi về chính Tây.

Theo http://danviet.vn/song-khoe/ngay-nao-tot-de-mo-hang-xuat-hanh-trong-dip-tet-at-mui-539741.html